Hội họa và âm nhạc là hai bộ môn nghệ thuật lâu đời nhất của loài người. Không biết âm nhạc có trước – mà còn tùy định nghĩa – hay hội họa có trước, nhưng ngay khi con người còn ăn lông ở lỗ đã vẽ những hình tượng trong hang động, dù là với mục đích gì. Ngày nay nhiều bộ môn khác ra đời đặc biệt các bộ môn hiển thị (Visual Arts) như nhiếp ảnh, điện ảnh cũng vẫn không làm cho hội họa mai một.
Ngay về hội họa và chỉ trên góc cạnh kỹ thuật cũng chia ra nhiều ngành: Thủy mặc, Mầu nước, Sơn mài, Mộc bản, Sơn Nước (Acrylic), Sơn dầu (Oil colour), Phấn tiên (Pastel)…Trong bài này chúng ta chỉ chú ý đến những điểm căn bản của kỹ thuật sơn dầu. Dĩ nhiên muốn vẽ, chúng ta cần vật liệu và dụng cụ rồi sau đó là đến cách vẽ.
VẬT LIỆU VẼ TRANH
Mặt vẽ (Support):
Sơn dầu có thể vẽ trên gần như bất cứ vật liệu nào như vải bố, gỗ, giấy, nhựa, miễn là vật liệu ấy không chứa độ dầu (fat) cao hơn là độ dầu chứa trong sơn dùng để vẽ. Tuy nhiên khi chọn support để vẽ, cần để ý support có thể biến dạng theo thời gian. Dù sơn dầu khá chắc và có độ co dãn nào đó sau khi khô, nhưng nếu mặt support bên dưới biến dạng nhiều sẽ làm hư lớp sơn vẽ nằm bên trên. Support càng ít biến dạng thì càng có giá trị bảo trì cao. Một họa phẩm đẹp mới vài chục năm đã bị mục, phai mầu, bong sơn, nứt nẻ, co dúm thì thật đáng buồn. Gỗ tốt, canvas dán trên bìa cứng, ván ép để vẽ là những support tốt. Tuy nhiên support thông dụng nhất vẫn là canvas căng trên khung vì:
- thoáng khí để sơn dễ bay hơi, "dễ thở", khô đi một cách tự nhiên.
- Tương đối chịu được thời tiết khắc nghiệt (ít bị vênh, cong, nứt nẻ..) chứ không như những support loại khác
- nhẹ. Vấn đề tưởng như không quan trọng, nhưng nếu bức họa lớn khoảng vài mét vuông nếu vẽ trên ván ép nặng vài chục ký khi cần di chuyển và treo lên rất khó khăn. Mang khoảng 20 họa phẩm như thế đi triển lãm, khiêng ...bở hơi tai. Diện tích càng lớn, tỷ lệ trọng lượng vàn ép, giấy ép, plastic càng cao so với canvas căng trên khung. Môt bức họa nhỏ cỡ mặt monitor, vẽ trên support nào cũng nặng gần như nhau. Nhưng một bức họa cỡ chiếc chiếu vẽ trên ván ép có thể nặng gấp mười lần so với bức cùng cỡ vẽ trên canvas văng trên khung gỗ. .
Canvas từ thế kỷ 15 đã từ từ thay thế ván gỗ, và trở nên thông dụng trong kỹ thuật tranh sơn dầu, sơn nước (Acrylic) vì những ưu điểm trên.
Sơn chống dầu (Primer):
Trước tiên xin đừng lộn sơn chống dầu với sơn lót (Under-painting). Chúng ta sẽ nói thêm về điểm này khi nói về cách vẽ. Tất cả những support làm bằng vật liệu thiên nhiên như gỗ, sợi organic ...cần phải sơn chống dầu trước khi vẽ sơn dầu. Lớp sơn chống dầu tất nhiên là loại sơn nước có chất keo bao phủ lấy mặt vẽ. Loại sơn chống dầu thông dụng gọi là Gesso. Phải sơn ít nhất ba lớp mới an toàn. Sơn chống dầu có hai công dụng.:
- Không để dầu thấm vào sợi bố, sợi organic, vì chẳng bao lâu, bố thấm dầu sẽ bị mục.
- Trám những lỗ li ti của support và như thế dầu và những chất phụ pha sơn khác sẽ không bị hút quá nhiều làm mất bớt công dụng và đặc tính của sơn vẽ.
Canvas đã căng trên khung và đã sơn chống dầu có bán sẵn tại các tiệm cung cấp vật liệu nghệ thuật cho họa sỹ. Canvas bầy bán đủ loại đủ cỡ.
Cọ và dao (bay) (Brush and palette knife):
Cọ là dụng cụ chính để vẽ. Nói thế bởi vì người ta có thể vẽ sơn dầu với bất cứ phương tiện nào: như dùng bay, một miếng móp, một chiếc khăn lông, một cái muỗng, ngay cả vói ngón tay của mình. Tuy vậy cọ vẫn được coi là dụng cụ phổ thông nhất.
Tùy độ cứng mềm của lông xử dụng mà những vết cọ để lại trên sơn khác nhau. Cọ có phẩm chất cao không bị rụng lông khi vẽ, không bị tòe đầu, biến hình dạng một sớm một chiều. Cọ tốt sau khi dùng trở lại hình thể nguyên thủy và nếu bảo trì kỹ lưỡng sẽ rất bền. Nên mua cọ tốt. Cọ rẻ tiền gây nhiều phiền toái khi cẽ và mau hư. Lúc đầu nên dùng loại cọ lông tương đối mềm, vì ta có khung hướng nhấn cọ hơi mạnh; nếu dùng loại lông cứng sẽ quẹt hết sơn đi. Có nhiều nhãn hiệu khác nhau, một trong những hiệu khá thông dụng và tốt, giá phải chăng là hiệu M. Grumbacher.
Chỉ cần một bộ cọ vài cái đủ để vẽ bất cứ loại tranh nào. Một người mới bắt đầu làm quen với sơn dầu chỉ cần:
- Một cọ tương đối dẹp, đầu bằng, rộng 2”, để sơn những mảng tương đối lớn, hay sơn lót và một cọ dẹp đầu bằng rộng khảng 3/4”.
- Một cọ fibert hay Walnut-shaped (đầu dẹp hình bầu dục, có thể hơi nhọn) khoảng nửa inch và một cọ cùng loại nhỏ hơn khoảng ¼”. Loại này rất thông dụng vì đa dụng.
- Một cọ tròn nhỏ nhọn đầu (round brush) (như bút viết chữ nho) để vẽ nét mảnh. Cũng có thể dùng cọ filbert 1/4” nói trên để vẽ những nét nhỏ như cành cây, cọng cỏ.
Cầm cọ như thế nào? Thật ra không có một cách cầm cọ nào nhất định cả. Tuy nhiên người ta thấy đa số họa sỹ khi cần quét những đường dài thì cầm cán cọ trong lòng bàn tay, làm thế nào để cánh tay và cườm tay di chuyển thoải mái. Còn khi vẽ những đường ngắn, thì cầm như cầm cây viết chì vây. Nếu cần vẽ những đường chính xác thì bàn tay cần một cây nhỏ như cây thước để bàn tay có thể tựa lên.
Ngoài cọ ra, cũng cần một cái cái bay để trộn mầu, để cạo sơn trên khay pha mầu (palette). Bay còn là phương tiện để vẽ thông dụng thứ hai sau cọ, đặc biệt công hiệu khi vẽ trên lớp sơn còn ướt (alla prima). Người ta chỉ dùng bay từ đầu tới cuối mà vẽ được nguyên một bức tranh. Vẽ bằng bay tương đối khó nhưng không vì vậy mà không thử và luyện tập. Bay có ưu điểm là không để lại đường vết của những sợi lông như khi vẽ bằng cọ, chùi mau sạch, bền, không cần dùng hóa chất để rửa nên nơi làm việc bớt bị ô nhiễm. Vì lau sạch rất mau, nên chuyển đổi mầu rất nhanh, không bị đợi lâu mà cụt mất hứng.
Sơn dầu (Oil Colour):
Chất (medium) dùng pha chế mầu (pigment) của sơn dầu tất nhiên là dầu. Sơn dầu bán ngoài thị trường mang nhiều nhãn hiệu. Sơn càng đậm đặc pigment bao nhiêu mầu càng rực rỡ bấy nhiêu, và thường đắt tiền hơn. Không nhất thiết phải vẽ sơn cùng một nhãn hiệu. Một công ty nào đó chế một vài mầu khá tốt, nhưng những mầu còn lại phải mua của những hiệu khác, vì độ pigment yếu quá, sơn lỏng quá khó dùng, nhất là khi vẽ impasto (vẽ những nét đường gồ ghề) trong lối vẽ alla prima (vẽ trên lớp sơn còn ướt).
Do những chất pha chế sơn khác nhau, một số mầu lâu khô hơn một số mầu khác. Mầu trắng và màu vàng (white and pale yellow) lâu khô nhất; mầu nâu (burnt umber) mau khô nhất.
Có ba mầu nguyên thủy (Primary colours) là những mầu người vẽ không tự pha trộn được từ những mầu khác. Theo nguyên tắc khi pha trộn với nhau theo những tỷ lệ khác nhau mầu nguyên thủy sẽ sinh ra vô số mầu phụ. Ba mầu nguyên thủy đó là: Vàng (Process yellow/Pale yellow), Thiên thanh (Cyan/Mầu xanh dương), Đỏ hạt lựu (Process red/Magenta). Ba mầu này rất tinh tuyền- mầu này không vương chút nào hai mầu kia cả. Tất cả những mầu khác đều có thể pha ra từ ba mầu này. Trong kỹ thuật ấn loát và phân mầu (trên computer chẳng hạn) người ta ghi tắt là: YMCK (Yellow – Magenta – Cyan và Black), thực tế trong ngành in người ta thường dùng thêm mầu đen, vì độ chính xác của máy in, nhiều khi trộn ba mầu nguyên thủy không đạt được mầu đen như ý. Xin nói chuyện ngoài đề: Những nhà nghiên cứu tâm lý thấy rằng trẻ em rất mê thích mầu nguyên thủy hay những mầu sát với mầu nguyên thủy.
Mầu đã được pha chế bán ngoài thị trường có khi hơi lỏng,có khi hơi đặc cho một người. Có khi lại khô chậm quá, hay khô nhanh quá. Vì vậy ngoài mầu, cũng cần có một số chất khác để giúp người vẽ dễ xử dụng mầu. Coi như cần thiết:
- Dầu pha lỏng sơn: Dầu ở vào một trong hai nhóm: loại dễ bay hơi và loại không bay hơi mà khi khô thì cứng lại theo mầu.
Nhóm thứ nhất để pha lỏng sơn, chùi sơn, lau cọ…biến chế từ những chất lấy từ thảo mộc hay động vật và có nhiều tên khác nhau thông như người ta gọi là Thinner hay Turpentine.. Loại không mùi, đắt tiền hơn nhưng không làm cho phòng vẽ bị ngộp. Loại đắt tiền dùng rửa cọ trong thời gian lâu không dùng sẽ giúp cọ ít bị đóng cứng.
Nhóm thứ hai dùng để pha chút ít vào mầu giúp cọ đưa lướt nhẹ nhàng hơn. Nhóm này không bay hơi, từ từ khô đi và đóng cứng lại với mầu. Thông dụng nhất trong nhóm này là Linseed Oil.
Trừ trường hợp cần thiết, ngoài ra không nên dùng quá nhiều chất pha sơn vì khi khô mầu bi xỉn, mất rực rỡ là một đặc tính của sơn dầu.
- Có một số chất phụ khác tuy không dùng thường xuyên nhưng cũng nên biết như chất làm cho sơn mau khô, chất bảo vệ tranh khi đã hoàn tất và sơn đã thật sự khô (matte varnish/gloss varnish). Lạm dụng chất làm sơn mau khô khiến sơn sau khi khô dễ bị nứt nẻ. Chỉ dùng chất phun lên tranh để bảo vệ và tái lập cái đẹp của mầu sau khi sơn đã hoàn toàn khô, thông thường là sáu tháng đến một năm tùy lớp sơn vẽ dầy hay mỏng.
NHỮNG LỐI VẼ SƠN DẦU:
Nguyên tắc căn bản: Fat Over Lean.
Cho dù các họa sỹ có cách vẽ riêng, nhưng có một nguyên tắc căn bản đã trở thành cố định “Sơn vẽ sau béo hơn sơn vẽ trước” (Fat over lean} hay vẽ trên nền sơn ít độ dầu. Đây là một nguyên tắc họa sỹ sơn dầu nào cũng phải tuân theo khi vẽ để tránh những sai lầm căn bản có thể làm hỏng bức tranh khi sơn khô. Fat over lean có nghĩa là mình đang vẽ sơn dầu trên một cái base ít dầu hơn.
Tranh sơn dầu khô rất lâu. Có thể cần sáu tháng đến một năm mới hoàn toàn khô. Trong thời gian này, dầu tiếp xúc với không khí từ từ khô cứng lại vì ốc-xít hóa và hơi co lại một chút. Nếu ta vẽ “lean over fat”, hiểu là ta ta đang dùng turpentine pha loãng sơn ra và dùng nó vẽ trên lớp sơn dầu (chưa khô hẳn), như vậy lớp trên sẽ khô nhanh vì ít dầu hơn. Khi lớp dước khô sau sẽ khiến bức tranh bị bong ra hoặc nứt nẻ. Bởi vậy khi vẽ sơn dầu, ta luôn luôn nhớ nguyên tắc “Fat Over Lean”. Có nhiều cách vẽ fat over lean:
- từ từ tăng độ dầu trong sơn, khi vẽ.
- giảm bớt lượng dầu (pha loãng với turpentine) trong những lớp sơn đầu khi vẽ.
- Dùng những mầu sơn khô mau để vẽ nền (xin coi lại đoạn nói về sơn dầu).
Vẽ trên sơn còn ướt (Alla prima):
Sơn dầu lâu khô. Người vẽ muốn hoàn thành một bức tranh trong cùng một lần vẽ, buộc lòng phải vẽ ngay trên sơn ướt. Kết quả nhận được khi vẽ trên sơn ướt khác xa kết quả khi vẽ trên sơn đã khô. Bởi lẽ lớp sơn mới vẽ có thể trộn với lớp sơn bên dưới và tạo ra nhiều mầu trung gian. Thế là thay vì pha mầu trên khay, chúng ta có thể pha mầu ngay trên canvas khi vẽ. Cái phiền là nếu một nét vẽ không vừa ý sẽ rất khó sửa. Càng tô đi vẽ lại nhiều, sơn sẽ nhòe nhoẹt và sau cùng trở thành mầu bùn (muddy). Cách vẽ trên sơn ướt đòi hỏi những nét cọ vững chắc để những mảng mầu vẽ lên được gọn ghẽ. Kỹ thuật này cũng đòi hỏi người vẽ phải có một số vốn về phân mầu, hình dung ra được một phần mầu trên pha xuống mầu dưới sẽ cho ra mầu gì.
Cách vẽ này là con đẻ của phái ấn tượng (impressionism). Alla prima - Bắt đầu là xong – không cho người ta cái cơ hội đi vào chi tiết. Nó cho người thưởng lãm cái ấn tượng về thị giác chứ không phải chỉ là đường nét và hình thể.
Nhưng cái đẹp của kỹ thuật này tạo ra rất ngọan mục. Nó tạo ra cái đẹp lấp lánh vì mầu thứ ba tạo ra do những đốm mầu nằm cạnh nhau chứ không phải luôn luôn pha trộn với nhau. Và cũng chính vì thế mà đường cọ phải lướt nhẹ vững chắc và “can đảm”.
Cao điểm của lối vẽ này là Impasto, dùng cọ hay bay, quệt từng mảng sơn dầy cộm lên lớp sơn còn ướt, hay mảng này chồng trên mảng kia. Impasto có thể coi là một lối vẽ riêng và dùng kỹ thuật này vẽ từ đầu tới cuối một bức tranh. Cũng có thể áp dụng impasto vào một lúc nào đó, ở một phần nào đó của bức tranh. Xử dụng impasto để vẽ, người ta khuyên nên dùng sơn pha hơi loãng để phác họa chi tiết của bức tranh trước. Làm như vậy sẽ phủ hết mầu trắng của canvas và bức tranh sẽ thống nhất hơn.
Vẽ trên sơn đã khô (Painting over dry paint):
Người ta còn gọi cách vẽ này là vẽ theo từng tầng. Có nhiều người không thích vẽ thẳng lên lớp sơn bảo vệ canvas (primer, xin coi lại phần trên) mầu trắng, mà phủ lên một lớp sơn mầu khác trước khi vẽ. Lớp sơn vẽ đầu tiên này thường gọi là sơn nền, hiểu là lớp sơn phủ lên toàn thể canvas. Có nhiều người, nhất là khi vẽ những bức phong cảnh nhiều chi tiết, lại dùng một vài mầu đơn giản, xám hay nâu (miễn là loại mau khô), vẽ trước rồi sau đó mới thực sự vẽ. Đó là sơn lót. Nền hay lót, chỉ là những tiếng gọi để ta dễ nhớ một ý niệm, thế thôi (Mà biết đâu lại trở thành tiếng kỹ thuật sau này không chừng). Không được dùng mầu trắng hay mầu vàng để sơn lót hay sơn nền, vì là những mầu rất lâu khô.
Dù là sơn nền hay sơn lót, theo cách “vẽ trên sơn đã khô”, thì dĩ nhiên phải để cho những lớp sơn này khô rồi mới vẽ lên. Ba đặc điểm chính của lối vẽ này là:
- Vì sơn dưới đã khô nên không thấm trộn với sơn mới vẽ, không tạo ra những mầu phụ mình không thích. Cũng vì thế mà chúng ta phải pha trộn mầu trên khay.
- Bức tranh có thể vẽ chi tiết hơn, vì chúng ta có thể thêm đưòng vẽ hay những lớp mầu một cách dễ dàng.
- Đợi sơn khô, chúng ta có thì giờ để suy nghĩ v à phát triển bức tranh kỹ lưỡng hơn.
Vẽ cách này nên kiên nhẫn, đừng lạm dụng chất mau khô để pha vào sơn, vì như thế khi khô, sơn có thể bị nứt hay tróc ra. Để sơn mau khô, người ta pha loãng mầu với Turpentine, đặc biệt khi vẽ lót. Tuy nhiên không nên pha loãng quá vì sơn bị xỉn đi.
Đi xa nhất theo lối vẽ này là Painting with glazes. Từ đầu tới cuối, bức tranh vẽ bằng sơn pha loãng với turpentine. Vẽ kiểu này tương tự như vẽ mầu nước. Lối vẽ này đã xưa cũ, chỉ còn dùng đôi chút với những lối vẽ khác, vì không tận dụng được cái hay của sơn dầu và mầu sắc không bền.
Vẽ trên nền tráng dầu (Painting over a Base of Oil):
Dầu vừa là chất pha chế vừa dùng tráng nền để vẽ lên. Kỹ thuật này đặc biệt thích hợp để vẽ cảnh sương mù. Trước khi vẽ, phủ một lớp dầu mỏng (Linseed Oil) lên mặt canvas, đặc biệt những chỗ cần tạo ảo giác sương mù, hay mờ ảo như cảnh mùa đ ông trong tranh thủy mặc. Khi vẽ lên chỗ có dầu, mầu tự động loang ra tạo ra ảo giác cho người xem tranh. Kỹ thuật này giống kỹ thuật vẽ mầu nước. Tất nhiên tranh vẽ lối này rất lâu khô và hy vọng bạn không dị ứng với mùi dầu.
Vẽ những đường nhỏ cạnh nhau (Painting with Small Strokes of colour):
Đây là cách vẽ được những người theo phái ấn tượng xử dụng nhiều nhất. Thay vì pha mầu sẵn từ khay, người ta pha mầu bằng cách đặt những chấm nhỏ cạnh nhau. Kết quả là mầu sắc nhìn sẽ lung linh. mầu sắc rực lên. Nói chung thì lối vẽ ấn tượng có cái dẹp của nó, mặc dù chi tiết bị bỏ qua.
QUY LUẬT CHUNG :
Ánh sáng:
Điều gì quan trọng nhất cần để ý và nắm vững khi vẽ một bức tranh? Đó là ánh sáng. Ánh sáng khiến ta nhìn được cái lồi lõm của sự vật. Chính ánh sáng làm cho ta thấy được chiều sâu của cảnh trí. Chính ánh sáng giúp ta phân biệt được cái thân cây sù sì khác với mặt hồ phẳng lặng. Trước khi kết thúc bài này, xin nhắc lại vài quy luật chung mà phần lớn liên hệ đến ánh sáng.
- Điểm sáng nhất trong bóng râm cũng không sáng bằng điểm tối nhất chường ra ánh sáng. Hay nói ngược lại: Điểm tối nhất của vùng chường ra ánh sáng cũng vẫn sáng hơn điểm sáng nhất trong bóng râm. Chà! Nghe có vẻ chơi chữ quá đi. Đừng cố hình dung mà mệt não. Hãy để một vật gì đó ra ngoài ánh sáng ban chiều hay ban sáng, rồi nhìn vào đó bạn sẽ thấy ngay.
- Đối tượng càng ở xa, càng mờ nhạt, và có mầu sắc lạnh hơn. Đối tượng càng ở gần, có mầu ấm hơn và rõ nét. Mầu đỏ và vàng là những mầu nóng nhất. Mầu xanh dương là mầu lạnh nhất. Khi pha chúng với nhau chúng ta được những mầu trung gian, hoặc hơi ấm, hay hơi lạnh. Một vật ở gần có mầu xanh, ở xa sẽ bớt xanh. Một vật ở gần có mầu đỏ, ở xa sẽ bớt đỏ...
- Giữa vùng sáng (Highlight) và vùng tối (Shadow) luôn luôn có vùng có sắc độ trung gian (Halftone). Sắc độ trung gian này quan trọng vì nó thường chiếm phần lớn diện tích bức tranh và vì nó cân bằng được hai đầu. Cần nhận diện ra sắc độ này và phác họa nó trước tiên. Điều này giúp tránh vẽ bức tranh quá sáng hay quá tối. Khi vẽ xong mới nhận ra sai lầm này thì đã quá trễ.
- Luật Phối cảnh:
Đường chân trời là đường chính trong luật phối cảnh. Tầm mắt ta phóng xa sẽ ngừng lại ở đó. Những đường nằm trên đường chân trời khi chạy ra xa sẽ hạ thấp xuống và nhập với nó. Những đưòng nằm dưới đường chân trời khi chạy ra xa sẽ vươn lên cao rồi quy vào đó. Vẽ theo luật phối cảnh sẽ cho bức tranh có chiều sâu.
Thay lời kết
Sơn dầu rất đa dạng. Không như mầu nước chỉ vẽ theo kỹ thuật mầu nước, sơn dầu có cách vẽ riêng và có thể vẽ như mầu nước. Sơn dầu có thể vẽ những cảnh trí âm u mà cũng diễn tả được những cảnh trí rực rỡ. Và sau chót sơn dầu rất bền, bền nhất trong các loại media. Những bức tranh thời Leonardo Da Vinci, với kỹ thuật rất xưa mà vẫn giữ được tới ngày nay, thì sơn dầu hiện nay, với kỹ thuật pha chế tân tiến, chắc còn bền hơn nhiều.
ST
Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2016
Sơ lược về Vẽ Tranh Sơn dầu
XEM TRANH - VẼ TRANH
Xem tranh và vẽ tranh, việc làm nào quan trọng hơn?
Riêng ở Việt Nam chúng ta, việc học vẽ tranh là một nhu cầu của nhiều người, nhất là của giới trẻ, thậm chí có nhiều em tuổi sinh viên coi việc tốt nghiệp được một bằng Đại học Mỹ thuật là một danh vọng nếu như họ không có đủ tiêu chuẩn để đậu các khoa bảng khác. Và chẳng có ai đi học xem tranh cả, có thể do không có nơi nào dạy cách xem tranh vì việc này chắc từ lâu người Việt đã coi là "chuyện nhỏ".
Thực ra, xem tranh cũng quan trọng không kém vẽ tranh. Biết và thích xem tranh là một điều rất quí, không những cho ai đó mà còn rất cần cho một nền mỹ thuật của đất nước họ. Một nền mỹ thuật èo uột chắc chắn vì bởi không có nhiều người thích và biết xem tranh. Do đó tất yếu các phòng triển lãm và bảo tàng mỹ thuật sẽ vắng như chùa Bà Đanh. Một tất yếu kế tiếp là thị trường nghệ thuật trở thành chỗ thao túng của những kẻ đội lốt art gallery để bán tranh chép, tranh giả và tranh "Cô gái áo dài với cành sen".Người biết xem tranh không nhất thiết phải vẽ được tranh, nhưng hoạ sĩ thì chắc phải biết xem tranh? Nhiều người trong chúng ta thường nghĩ vậy. Tuy nhiên, trên thực tế ở nước ta, hoạ sĩ không biết xem tranh không phải là không ít, hay chính xác hơn là phần đông họ chỉ thấy tranh của mình hoặc tranh của hoạ sĩ khác vẽ theo lối của mình là đẹp mà thôi. Vì thiếu kiến thức về sự phát triển của lịch sữ mỹ thuật và thiếu cập nhật thông tin mới về các trào lưu sáng tạo nghệ thuật đang xảy ra nên mọi cái khác với cách vẽ của họ đều bị chê là vẽ bậy bạ.Trong nhận định tác phẩm mỹ thuật, mỗi hệ qui chiếu có vai trò riêng để giúp thấy đúng giá trị sáng tạo của mỗi tác phẩm, nếu áp đặt lên tác phẩm khác trường phái bằng cái nhìn vị kỷ hoặc cục bộ thì chắc chắn tác phẩm ấy sẽ bị nhận một số phận không mấy tốt đẹp.Để tránh những sai sót trong xem tranh do cảm tính và chủ quan, việc xem tranh không chỉ cần phải được dạy trong các trường học từ mẫu giáo trở lên mà cũng phải được coi trọng tại các trường mỹ thuật. Dù đã có khoa Lý luận và Phê bình và môn lịch sử mỹ thuật, nhưng do chúng ta có ít thầy giỏi và sinh viên không mấy coi trọng giờ học lý thuyết (trừ sinh viên chuyên ngành Lý luận và Phê bình) nên nghệ thuật xem tranh của một số hoạ sĩ sau khi ra trường đã bộc lộ những khoảng trống kiến thức. Mặc khác, do có năng khiếu tốt và nhạy bén với thị hiếu nghệ thuật của khách mua tranh hoặc do thành công với cách vẽ hợp thị trường, họ đã sớm tự thấy mình có quyền đưa ra những nhận định thế nào là một bức tranh đẹp, những tiêu chí mỹ học rất chủ quan. Và thật nguy hiểm khi những hoạ sĩ như thế được cơ cấu ngồi vào các hội đồng nghệ thuật!Xem tranh, lợi cho ai?Xem tranh là một thú giải trí rất văn hoá cũng như đi xem kịch, xem phim, đọc sách... của con người. Ở đây chúng ta không bàn đến những lợi ích quan trọng mà thú xem tranh mang đến cho mỗi người vì nó quá hiển nhiên, điều lợi ích mang tính chiến lược cho mỗi nền mỹ thuật quốc gia là tạo được một tập quán xem tranh cho người dân thì cơ hội phát triển nền mỹ thuật quốc gia mới thật sự đầy triển vọng. Đó chính là nguồn khách cho các phòng triển lãm, cho thị trường mỹ thuật và cho các viện bảo tàng, thậm chí họ cũng là nguồn độc giả cho các bài báo và sách viết về mỹ thuật. Riêng với giới doanh nhân, biết xem tranh đồng nghĩa với biết thẩm định cơ bản về tác phẩm sẽ giúp họ đi vào con đường kinh doanh nghệ thuật một cách lành mạnh, hòng tạo được một thị trường nghệ thuật chuyên nghiệp cho đất nước.Rõ ràng, tình trạng vắng hoe khách xem tranh của các bảo tàng mỹ thuật và phòng triển lãm trên toàn Việt Nam hiện nay là hậu quả tất yếu gây ra bởi lỗ hổng giáo dục mỹ thuật tại học đường ở nước ta từ hằng chục năm qua. Nhìn ra ngoài, không phải nhờ sự giàu có và hùng cường về khoa học và kinh tế mà tất yếu nền mỹ thuật của các nước phương Tây trở nên tiên tiến, chắc chắn là không phải như vậy và cũng chắc chắn rằng ta sẽ trở nên có văn hoá văn minh sau khi ta có nhiều tiền. Văn hoá luôn là cái nền cho mọi sự thăng tiến, vì thế người phương Tây luôn chuẩn bị cái nền văn hoá từ rất sớm cho lớp công dân trẻ của họ. Tác giả đã từng chứng kiến cảnh các bé từ 6-8 tuổi được cô giáo hướng dẫn xem tranh tại Bảo tàng Mỹ thuật Hiện đại Paris một cách nghiêm túc và hào hứng. Thật ngạc nhiên khi chứng kiến cảnh một bé gái khoảng 7 tuổi trả lời một cách chính xác một bức tranh lập thể của Picasso vẽ về một bãi biển đang được treo trước mặt bé. Càng ngạc nhiên hơn khi cô giáo hỏi bức treo bên phía tay phải em là của hoạ sĩ nào? Bé trả lời không đắn đo: "Thưa cô, đó là tranh của hoạ sĩ Kandinsky, một tác phẩm trừu tượng". Thì ra, sau khi trao đổi với cô giáo của các bé, tác giả mới biết là các em được chuẩn bị ở lớp rất kỹ bằng các bài giảng về cách vẽ cũng như xem tác phẩm được in lại của các hoạ sĩ mà các em sẽ đi xem tại bảo tàng mỹ thuật. Mặt khác, cũng nằm trong chiến lược giáo dục văn hoá của nước Pháp, cứ mỗi thứ Tư trong tuần, các học sinh được xem tranh miễn phí và sinh viên thì vào cửa được giảm giá phân nửa, thảo nào các bảo tàng mỹ thuật ở các nước tiên tiến lúc nào cũng đông người xem dù vé vào cửa không rẻ. Để việc xem tranh trở thành một tập quán thì việc xem tranh phải được bắt đầu từ tuổi thơ. Nếu không được hướng dẫn từ mẫu giáo thì chí ít cũng phải từ tiểu học, để đến trung học mới thực hiện việc hướng dẫn các em xem tranh đã là trễ, nhưng nền giáo dục của chúng ta vẫn còn đặt nó bên ngoài dù bây giờ đã là thế kỷ 21. Chơi tranh Những gì cần cho người chơi tranh? Như thế, biết xem tranh thì mới nên chơi tranh, vì nhờ có kiến thức nên không khó tránh được việc mua nhầm tranh giả, nhận biết giá trị sáng tạo của hoạ sĩ và sự khác nhau giữa các trường phái và nhận ra phong cách của từng hoạ sĩ. Tất nhiên, việc bạn yêu một loại tranh nào lại là chuyện riêng của bạn, nhưng có kiến thức về mỹ thuật bạn sẽ tránh được việc khen chê không đúng cách. Biết xem tranh có trình độ cao (chỉ bắt buộc cho hoạ sĩ và nhà phê bình) là biết cả màu vẽ tốt hay xấu, biết cả bố vẽ thuộc loại được dệt từ loại sợi nào và đã được sơn lót có đúng cách không... Để chơi tranh của các danh hoạ, người sưu tập tất nhiên là phải có nhiều tiền, tuy nhiên có ít tiền vẫn chơi được tranh, không nhất thiết phải cố mua tranh của các danh hoạ, bạn có thể chọn tranh của các hoạ sĩ trẻ, chưa nổi tiếng nhưng nhờ có trình độ xem tranh cao tay, bạn có thể nhận ra tài năng đầy triển vọng trong số họ để mua. Dù sao chơi tranh thật vẫn thú vị hơn là chơi tranh của các bậc thầy mà toàn là copy. Một trong những điều kiện quan trọng mà người mua tranh phải biết là xem bức tranh có được vẽ bằng mầu tốt không, tranh có bị nấm mốc và mầu có bị xuống chất không, toan vẽ mặt sau có bị thấm dầu không (nếu là tranh sơn dầu), khi đưa lên ngược sáng, có tia sáng nào lọt qua sau lưng bức tranh không và cuối cùng là biết treo tranh đúng cách nhằm bảo quản tác phẩm. Một trong những sai lầm quan trọng là treo tranh tại những nơi ẩm thấp, nhiều khói và hơi nước như tại những nhà hàng ăn uống, quán phở và quán café, hoặc để ánh sáng mặt trời chiếu thẳng vào mặt tranh. Tất cả những điều đó hay điều kiện thời tiết có độ ẩm cao như ở miền Bắc Việt Nam vào mùa Thu-Đông đều có thể khiến tranh bị hư hỏng (xuống mầu, bong tróc, nấm mốc,...). Điều này đã xảy ra cho tranh của các danh hoạ Việt Nam thuộc các thế hệ mỹ thuật Đông Dương do tư nhân và nhà nước lưu giữ không được bảo quản đúng cách là khá nhiều, nhất là các tranh sơn dầu và bột màu được vẽ trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam. Tất nhiên, nếu ở phương Tây thì bạn có thể uỷ thác những việc thẩm định, tư vấn, xử lý kỹ thuật phục chế,... cho các chuyên gia hoặc công ty bảo hiểm tác phẩm nghệ thuật, còn ở trong nước thì ngay cả nhiều hoạ sĩ Việt có tiếng đương thời cũng không biết nhiều về những điều bài viết vừa đề cập, huống gì đến những người buôn bán tranh, kể cả những "đại gia" sưu tập tranh như THT, BQC, D.VL, Apricot,...Vậy chơi tranh có lợi gì? Chơi tranh có 5 cái lợi:- Thứ nhất là để giữ lại trong nhà mình một hoặc nhiều tác phẩm nghệ thuật mà nó đem lại cho mình những thú vị tinh thần đặc biệt mỗi khi ngồi trước nó. Từ khi ngôi nhà có những bức tranh ấy, ngôi nhà trở nên đẹp hơn và rộn rã hơn. Hạnh phúc gia đình cũng tăng phần đậm đà hơn.- Chơi tranh sẽ giáo dục được con cháu về tình yêu nghệ thuật và hiểu biết lịch sử phát triển nền mỹ thuật đất nước một cách thực tế nhất.- Chơi tranh cũng là cách đầu tư không sợ rớt giá.- Chơi tranh sẽ giữ lại cho đất nước những tác phẩm quí của các danh hoạ Việt Nam.- Và sau cùng, chơi tranh là nuôi dưỡng tài năng sáng tạo của hoạ sĩ Việt Nam, giúp ngành gallery Việt Nam phát triển theo hướng chuyên nghiệp và sẽ giúp tranh của họ luôn có giá xứng đáng trên thị trường nghệ thuật quốc tế.Thẩm định tranhMột khoa học chưa được quan tâm đúng mức ở Việt NamThẩm định tranh là việc xem tranh của giới chuyên môn (hoạ sĩ, nhà phê bình). Họ không xem tranh như người yêu tranh (chủ yếu là cảm tính), Họ không hỏi đại loại như bức tranh này vẽ cái gì, mầu sắc êm dịu hay "chỏi" quá, v.v. và v.v..., mà họ sẽ đánh giá phong cách hội hoạ, trình độ kỹ năng và sau cùng là hiệu quả thẩm mỹ của tác phẩm. Đây là một khoa học đòi hỏi người thẩm định tranh phải có nhiều kiến thức chuyên môn. Các trường mỹ thuật ở Việt Nam từ sau ngày giành được độc lập từ tay người Pháp không có khoa dạy về cách thẩm định tác phẩm hội hoạ đúng chuyên môn. Dưới thể chế xã hội chủ nghĩa, khoa Lý luận và Phê bình chỉ tập trung ở nội dung chính trị, xem nhẹ phần sáng tạo nghệ thuật và dị ứng với những cái mới. Ngay cả hoạ sĩ nổi tiếng Nguyễn Huy Tiếp, từng được đào tạo ở Liên Xô cũ, hiện là Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật của Hội Mỹ thuật Việt Nam vừa phát biểu trên kênh truyền hình VTV về nghề vẽ tranh sơn dầu, sau khi cho biết: vẽ tranh sơn dầu tưởng là dễ mà thực ra rất khó, muốn vẽ được tranh mầu dầu người vẽ phải có nghề,... Nhưng khi được phóng viên truyền hình hỏi: "Theo hoạ sĩ, vẽ thế nào là có nghề?" lại cũng trả lời loanh quanh là: vẽ làm sao để diễn tả được cảm xúc của tác giả, đường cọ vẽ phải toát lên được ý nghĩa sâu xa mà hoạ sĩ muốn gửi gắm, v.v và v.v... Đây là câu hỏi rất hay, người hỏi đã chụp ngay được chỗ quan trọng đầy hứa hẹn sẽ mở ra một "kho ý kiến chuyên nghiệp" từ một hoạ sĩ đã từng được đào tạo tại Nga trước kia và hiện đang đứng đầu nhóm những nhà thẩm định tác phẩm nghệ thuật của HMTVN. Thế nhưng, theo dõi cuộc phỏng vấn đến kết thúc nhưng người xem vẫn không thấy ông nói đến phần cơ bản nhất về kỹ thuật sử dụng mầu dầu đúng cách và những phụ liệu hỗ trợ nào cần cho mỗi cách vẽ. Hay thế nào là "matière", có mấy loại và các cách tạo ra matière thích hợp cho từng loại toan và cho từng trường phái. (Có thể vì trả lời trên VTV, ông không thể giải thích sâu về chuyên môn vì thời gian và đối tượng xem truyền hình là đại chúng, hay muốn giữ cho riêng mình những bí quyết nghề nghiệp được học từ nước ngoài?)Cái đẹp và hay của một tác phẩm hội hoạ không hẳn chỉ là ý nghĩa của nội dung bức vẽ mà trong hội hoạ hiện đại nhiều khi cái đẹp cũng phụ thuộc vào nghệ thuật sử dụng chất liệu hỗ trợ. Từ Hiện đại đến Đương đại, các chất liệu hỗ trợ cho sáng tác đã tiến một bước khá dài và giữ một vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra những giá trị của tác phẩm. Ngày nay chất liệu mỹ thuật không còn đơn thuần là chất liệu, mà dưới tay của nghệ sĩ, nó đã là ngôn ngữ nghệ thuật của riêng họ.erre Soulages - Peinture 195 x 130 (1948), New York, Museum of Modern Art. Như thế, chất liệu mỹ thuật là một ngành công nghiệp tiên tiến với những sáng tạo ngày càng mới lạ, mở đường cho ý tưởng thực hiện tác phẩm của nhà nghệ sĩ. Rõ ràng là có một sự gắn kết vô hình giữa nhà sáng tạo chất liệu mỹ thuật và người làm ra tác phẩm nghệ thuật. Một trong nhiều ví dụ về sự đóng góp rất âm thầm của những nhà hoá học cho giới nghệ sĩ tạo hình là mầu đen trong tranh trừu tượng của danh hoạ Soulages được chế riêng bởi một kỹ sư hoá học theo yêu cầu của hoạ sĩ, vì ông không muốn dùng mầu đen có trên thị trường.Để thẩm định một bức tranh, bạn cần có những phẩm chất nào?Được ngồi vào ghế của một nhà thẩm định tranh là một vinh dự lớn cho người làm nghệ thuật, nhưng nó cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất lợi nếu bạn không có đủ kiến thức chuyên môn về cả lý thuyết lẫn kỹ thuật vẽ tranh. Có thể coi một nhà thẩm định tác phẩm nghệ thuật như một người thuộc hết quyển tự điển, họ nhìn vào một tác phẩm là biết ngay lối vẽ này thuộc về trường phái nào, bút pháp ở trình độ nào, kỹ thuật non tay hay điêu luyện, tư duy nghệ thuật của tác giả mới lạ hay vay mượn của ai,... Nếu không có nghề như thế, một sự lầm lẫn trao huy chương vàng cho một bức tranh chép như Hội đồng Nghệ thuật của HMTVN đã thực hiện trong cuộc triển lãm toàn quốc năm 2007 là dễ hiểu.Khi nói về phê bình thơ, có một câu được truyền tụng như sau: "Phê bình thơ thì ai cũng phê bình được, nhưng để phê bình cho hay thì phải là một nhà thơ có tài". Còn về mỹ thuật thì: "Một nhà phê bình hội hoạ giỏi có khi là một hoạ sĩ thất bại." Chữ "tài" trong câu nói thứ nhất là có nghĩa đòi hỏi ở một nhà phê bình thơ một phẩm chất đặc biệt. Có tài lớn anh mới nhận ra giá trị của tác phẩm mà anh đang xem thuộc cỡ nào dù nó khác "chiêu" hay cùng môn phái, hơn nữa, anh còn nhận ra tương lai rực rỡ của một tài năng lớn đang tiềm ẩn. Còn trong câu nói thứ hai, sao lại là một "hoạ sĩ thất bại"? Nghe ra có vẻ mâu thuẫn nhưng thật ra, đây là cách nói khéo, một kiểu ca ngợi kín đáo, dành cho những nhà phê bình không phải là hoạ sĩ nhưng lại có kiến thức mỹ thuật rất uyên bác và một cảm quan thưởng ngoạn sáng tạo nghệ thuật bén nhạy như trường hợp tác giả của Tuyên ngôn Siêu thực (Manifeste du Surréalisme), nhà văn André Breton và tác giả cuốn sách nổi tiếng Les Voix du silence, nhà văn André Malraux, cả hai đều là người Pháp, đã viết và đóng góp cho sự phát triển mỹ thuật hiện đại phương Tây rất lớn.Riêng mỹ thuật Việt Nam, Thái Bá Vân, tác giả của cuốn sách Tiếp xúc với mỹ thuật, là một người cũng đã để lại một dấu ấn khó quên trong chúng ta.
Sài Gòn 12-2008
© 2009 Trịnh Cung
© 2009 Trịnh Cung
Phối màu tạo hiệu ứng
Phối màu tạo hiệu ứng Từ màu căn bản có thể tạo ra hơn 1400 màu sắc khác nhau. Dãi màu rộng tạo ra từ việc phối màu được ứng dụng trong các lãnh vực nghệ thuật và thiết kế như đồ họa, quảng cáo, thời trang... tạo nên những hiệu ứng nhất định.
KHỎE MẠNH Muốn phối màu tạo ra hiệu ứng khỏe mạnh, sôi động thì phải luôn kết hợp với màu đỏ. Chủ đề chính của bức tranh kết hợp với màu đỏ sẽ gây sự chú ý. Màu có hiệu ứng khỏe mạnh sẽ tạo ngay cho người xem tình cảm yêu hoặc ghét. Vì vậy hiệu ứng khỏe mạnh sẽ làm tăng tình cảm người xem với chủ đề chính. Trong lĩnh vực quảng cáo, hiệu ứng khỏe mạnh của màu sắc rất cần để chuyển tải những chủ đề chính đến người xem.
ĐẦM ẤM Muốn phối màu tạo ra hiệu ứng đầm ấm, dồi dào, tráng lệ thì phải luôn kết hợp với màu tối. Chẳng hạn như nét thâm trầm sâu lắng thể hiện qua màu đỏ huyết dụ là sự phối hợp giữa màu đen và màu đỏ. Thêm màu xanh lá cây đậm và màu vàng sậm sẽ tạo ra sự dồi dào, sung túc. Những nét sậm này lại tạo ra sự xa hoa, lộng lẫy. Nếu dùng hiệu ứng này thiết kế vải sợi sẽ cho ra những xấp tơ lụa mang tính quý phái, sang trọng.
LÃNG MẠN Màu hồng tạo ra nét lãng mạn. Màu hồng được tạo ra từ việc kết hợp màu trắng với màu đỏ. Cũng như màu đỏ, màu hồng gây sự chú ý và tạo ra sự sôi nổi nhưng nhẹ nhàng và êm ái hơn. Muốn tạo hiệu ứng lãng mạn thì kết hợp màu hồng với những màu tương đồng và dùng thêm độ sáng tối. Dùng màu hồng để tạo ra thiệp chúc mừng thì thật tinh tế và trang nhã. Cũng với hiệu ứng lãng mạn mà hoa hồng luôn tượng trưng cho tình yêu nồng thắm.
SINH ĐỘNG Hiệu ứng sinh động và nhiệt thành được làm rõ nét trong thiết kế và đồ họa bằng cách dùng màu một cách bình thường nhưng phải biết tạo ra nét chấm phá. Ví dụ như trong hình trên, màu đen dùng làm nền cho bức ảnh, màu đỏ cam là trung tâm gây chú ý. Với hiệu ứng ánh sáng làm màu đỏ cam lôi cuốn hơn. Để tạo nét sinh động, trẻ trung cho bức ảnh người ta dùng một đốm sáng xanh lóe lên và thêm độ bóng của các thân cây dù.
BỤI ĐẤT Hiệu ứng bụi đất thường được dùng màu sậm. Màu đỏ cam đậm hay gọi là màu đất có một nét “bụi”. Khi dùng với màu trắng nó tạo ra chói chang, rực rỡ. Hiệu ứng màu bụi đất tạo ra một nét trầm lắng, vô tư, người xem được thư giãn. Màu đất thường dùng trong trang trí nội thất, làm người ta gợi lên những khung cảnh miền viễn tây nước Mỹ hoặc bụi đất của Mêhicô hoặc vùng hoang mạc hoặc bụi đỏ của cao nguyên Pleiku.
THÂN THIỆN Để phối màu tạo ra nét thân thiện, nhiệt tình, người ta thường dùng màu cam. Màu cam và màu tương đồng của nó đều được tạo ra trên nền màu đỏ. Chính vì vậy, màu cam được dùng để tạo ra các món ăn nhanh trong nhà hàng. Nó làm người ta cảm giác món ăn ngon và giá cả hợp lý. Màu cam còn dùng trong các dụng cụ cứu hộ như áo phao. Chúng ta thử tượng tượng xem, màu cam của áo phao sẽ nổi bật hẳn trên nền biển xanh
ÔN HÒA Màu sáng với độ tương phản cao thường phù hợp với việc phối ra màu sắc với hiệu ứng ôn hòa. Màu hồng quả đào trong bảng màu tạo ra nét ôn hòa, trang nhã và ngọt ngào. Chính vì vậy mà trong nhà hàng và các tiệm bán thời trang thường dùng màu sắc này. Khi phối hợp với màu tím nhạt và màu xanh nó sẽ làm sáng dịu khung cảnh. Dùng các sắc màu này để trang trí nhà cũng rất hợp. Màu sắc ôn hòa sẽ tạo ra cảm giác ngọt ngào, êm ái.
ĐÓN CHÀO Màu vàng cam hay màu hổ phách đều được tạo ra trên nền màu đỏ. Chính vì vậy chúng gây sự chú ý và như mời gọi, đón chào người xem. Thật vậy, trong cuộc sống màu của những đồ vật vàng đã nói lên sự quyến rũ, mời gọi của nó. Nếu kết hợp với màu sáng của pha lê thì có một nét đẹp thật tuyệt vời. Màu vàng cam và màu tương đồng với nó phù hợp với không khí lễ hội. Trong các đám cưới Á đông không thể thiếu sắc màu này.
CHUYỂN ĐỘNG Những màu sắc sáng phối hợp với nhau ra hiệu ứng này. Tuy nhiên, nên lấy màu vàng làm trung tâm. Màu vàng có như ánh sáng mặt trời, tạo ra hiệu ứng chuyển động. Khi thêm màu trắng vào màu vàng, mức độ tỏa sáng càng tăng lên. Nếu phối màu ở độ tương phản cao, màu vàng có thể kết hợp với màu tím. Ngoài ra màu vàng và những màu tương đồng sẽ tạo ra hiệu ứng làm cho khoảng không gian chung quanh chuyển động.
THANH LỊCH Để có hiệu ứng thanh lịch, chỉ nên phối những màu nhẹ với nhau. Chẳng hạn như màu vàng nhạt phối với màu trắng cho ra màu vàng kem. Nếu trong một căn phòng trắng cũng có thể điểm vài màu sậm hơn. Ví dụ vòm hành lang trong hình trên có nền vàng nhã, được tô điểm thêm bằng khung đèn trần màu đen. Trong thời trang, các chất liệu vải, tơ lụa, len, nhung dùng màu kem sẽ tạo được một ấn tượng thoải mái và thanh lịch
THEO MỐT Cái gì mốt của hôm nay có thể là bình thường với ngày mai. Để tạo ra hiệu ứng hợp thời trang nên dùng màu tạo ấn tượng trẻ trung. Màu lục nhạt là một màu dễ gây ấn tượng trẻ trung và nổi bật. Màu lục nhạt phối với những màu sáng tương đồng được dùng nhiều trong thời trang. Ngoài ra để tô điểm có thể dùng kèm với màu đỏ cam nhạt và màu tím. Trong hình ở trên, lục lam làm nền làm nổi bật áo len màu đỏ cam nhạt, màu xanh lá, xanh tím và màu tím là những màu tạo nét chấm phá.
TƯƠI MÁT Hiệu ứng tươi mát, trong lành trong phối màu là sự cân bằng của màu xanh, vàng và xanh lá. Màu xanh lá là một màu yếu nên có thể phối hợp với một phần của màu đỏ để tạo thêm sinh khí cho bức tranh. Tuy nhiên với những màu tương đồng của màu xanh luôn tạo ra ấn tượng tươi mát, trong lành. Ví dụ như một đụn rơm mới trên bầu trời trong xanh hoặc như hình trên là một chiếc ghế đang tắm nắng mai trên thảm cỏ xanh của công viên.
TRUYỀN THỐNG Phối màu truyền thống mang một ý nghĩa lịch sử. Màu xanh, màu đỏ tía, màu nâu vàng, màu xanh lá tạo ra ấn tượng cổ xưa. Màu xanh lá cây đi với màu sậm tối luôn tạo cho người xem một cảm giác bền vững. Thật vậy, màu xanh lá phối với màu vàng đậm hoặc màu đỏ tía trong sắc tối sẽ tạo ấn tượng ấm áp và bền vững. Trong trang trí, cách phối màu này thường dùng để lấp khoảng trống các văn phòng vì nó tạo được cảm giác cố định, lâu dài.
DỄ CHỊU Muốn phối màu để tạo ra một cảm giác dễ chịu luôn phải là màu lạnh. Đó là màu lục lam, đôi lúc có thể đi kèm với màu đỏ cam. Màu lục lam luôn tạo ra một cảm giác hưng phấn, dễ chịu. Nó thường được dùng trong quảng cáo du lịch, gợi lên cho người xem một cảm giác thư thái, nghỉ ngơi. Màu lục lam sẽ rạng rỡ hơn nếu được kết hợp với màu trắng của bọt nước hoặc sóng biển.
NỒNG NHIỆT Màu ngọc bích tạo ra một cảm giác trẻ trung, nồng nhiệt. Dãy màu từ lục lam sáng đến ngọc bích nếu phối với màu trắng sẽ cho ra màu mát. Dùng màu đỏ cam ấp áp để nổi bật giữa nền màu ngọc bích mát lạnh hoặc có thể cho màu vàng cam và màu tím đi chung với màu ngọc bích để tạo sự trang nhã, sang trọng. Vì vậy, màu sắc trên được dùng nhiều trong các ngành thiết kế.
CỔ ĐIỂN Nét cổ điển tạo ra cảm giác mạnh mẽ và uy quyền. Nét cổ điển được tạo ra từ màu vàng và những màu tương đồng. Nó nói lên quyền lực của vua chúa. Màu xanh dương lại là màu tô đậm thêm uy quyền. Để nhấn mạnh thêm sức mạnh quyền lực có thể phối thêm màu đỏ. Cũng không lạ gì, màu tạo ra quyền lực lại chính là ba màu cơ bản phối ra các màu khác.
TIN CẬY Một trong những màu được dùng rộng rãi đó là màu xanh biển. Màu xanh biển tạo ra một cảm giác tin cậy, mạnh mẽ. Nếu nền màu vàng được tô đậm nét uy quyền bằng màu xanh thì nền màu xanh biển sẽ mềm mại hơn nếu được tô điểm bằng màu vàng. Nếu muốn tạo ra một cảm giác mạnh mẽ là kiên quyết thì màu xanh phối hợp với màu đỏ và màng vàng (ba màu căn bản).
BÌNH YÊN Đứng trước một màu xanh của biển người ta thường thấy một cảm giác bình yên, thanh thản. Trong những môi trường làm việc căng thẳng nếu màu lục lam được dùng làm nền chính thì sẽ làm cho mọi người thấy công việc nhẹ nhàng hơn. Màu xanh, màu đỏ, màu vàng vẫn có thể phối hợp với nhau trong cùng môi trường để tạo thêm nét sinh động nhưng phải là dạng màu kem.
VƯƠNG GIẢ Sự mạnh mẽ của màu xanh pha trộn với rực rỡ của màu đỏ tạo ra màu xanh tím. Để làm giảm bớt sự mạnh mẽ, người ta pha thêm chút màu đen để tạo ra màu tím thẫm. Màu tím thẫm nếu đặt trên nền vàng sẽ làm màu vàng rực rỡ hơn. Chẳng khác nào quả mận chín tắm trong nắng vàng của mùa hè. Nếu đặt màu tìm thẫm trên màu vàng cam sẽ tạo ra một nét đẹp vương giả.
LÔI CUỐN Màu tím có sức mạnh lôi cuốn riêng của nó. Sự mạnh mẽ của màu xanh pha trộn với cuốn hút của màu đỏ đã tạo ra sức mạnh lôi cuốn đó. Không biết người ta phải tốn bao nhiêu công sức để làm thơ ca ngợi màu áo tím. Màu tím và màu vàng luôn quyện với nhau, cùng tô điểm để làm đẹp hơn. Nếu bất chợt thấy một tà áo dài tím bước đi trên xác lá vàng thì chắc chắn đó là một bài thơ hay.
NHỚ NHUNG Vẫn là màu tím nhưng là màu tím nhạt. Một lá thư bằng màu tím nhạt chắc chắn muốn nói lên sự nhớ nhung. Màu tím luôn là màu lãng mạn của thơ ca. Ví dụ như: “Chiều tím, chiều nhớ thương ai, còn thương nhớ hoài…” (Đan Thọ - Đinh Hùng). Màu tím sẽ rực rỡ hơn với màu vàng và say đắm, nồng nhiệt với màu hồng. Có lẽ vậy mà trong bài Chiều tím, tác giả đã phối màu rất tuyệt: “… Nét hoa mơ vàng và em với chàng kề vai áo phấn hương…”.
MÃNH LIỆT Để tạo ra sự mãnh liệt người ta thường dùng màu đỏ tím hay màu cánh sen đậm. Đỏ tím hay cánh sen trong sắc tươi thắm sẽ tạo ra một sức sống mãnh liệt. Có thể dùng sự chỏi màu của màu cánh sen, màu vàng và màu xanh lá cây để tạo ra cảm giác chuyển động, nhưng phải có giới hạn trong cách phối màu này. Hình trượt tuyết trên là ví dụ minh họa. Màu cánh sen nổi trên nền trời xanh biếc, màu vàng và màu xanh lá chỉ là để thêm nét chấm phá.
ÊM DỊU Không như sự mãnh liệt của màu hoa cà, màu cánh sen, khi phối màu tạo sự êm dịu cần một chút tương phản. Màu tím hoa cà chen lẫn màu cánh sen, màu xám và màu trắng sẽ tạo ra một khung cảnh êm đềm. Hình ảnh ở trên là sự phối màu tuyệt vời đó. Ngoài ra có thể tô điểm như thêm màu xanh lá mạ hoặc tăng sự tương phản bằng cách thêm màu đen làm nền. Những sắc màu trên đều được tự nhiên phối màu sẵn qua những cảnh hoàng hôn, gió núi.
NGHỀ NGHIỆP Màu sắc trong công sở được chú ý đặc biệt. Thời trang công sở thường ở màu xám, thiên về sậm đen. Bởi vì những màu này là màu trung tính, không làm mất đi nét riêng của mỗi người. Nếu phối màu, lấy màu xám làm nền và màu đỏ, đỏ cam hay nâu làm màu tô điểm thì thật đẹp. Màu sắc trung tính tạo nên sự tự tin trong công việc, một điều rất cần thiết cho những nhà doanh nghiệp và những người thường xuyên có nhu cầu giao tiếp.
(Sưu tầm)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Góc Thư giản
Khi thấy chữ nhỏ muốn cho to ra, hãy nhấn vô Ctrl Key (bên trái phía dưới bàn gõ) đồng thời gõ vô Key dấu + (góc phải phía trên). Nếu gõ một lần chữ chưa đủ lớn, thì gõ hai lần, ba lần ...
Ngược lại, Bấm Ctrl Key và Key dấu -( kế góc phải phía dưới ), chữ sẽ nhỏ lại.
Ngược lại, Bấm Ctrl Key và Key dấu -( kế góc phải phía dưới ), chữ sẽ nhỏ lại.