Ông tên thật là Lê Minh Lập, sinh ra tại Đà Lạt. Trong thời kỳ chiến tranh, giấy tờ bị thất lạc, trong 2 lần làm lại giấy khai sinh, tên của ông bị nhân viên giấy tờ viết nhầm thành Lê Minh Lộc rồi Lê Văn Lộc. Từ đó ông vẫn giữ cái tên Lê Văn Lộc.
Cha của nhạc sĩ Lê Uyên Phương vốn họ Phan, nhưng vì cuộc cách mạng của Phan Bội Châu nên phải đổi thành họ Lê. Mẹ của ông là Công Tôn Nữ Phương Nhi, ông lấy chữ Phương trong tên của mẹ làm tên nghệ danh cho mình. Cùng với chữ Uyên là tên người bạn gái đầu tiên, ông ghép thành nghệ danh Lê Uyên Phương.
Dòng nhạc của nhạc sĩ Lê Uyên Phương
Hầu hết những sáng tác của Lê Uyên Phương là viết về cuộc tình của chính họ, về những trăn trở, nhưng lo lắng cho cuộc sống của chính hai người. Các sáng tác của Lê Uyên Phương cấu trúc, khúc thức âm nhạc cũng ảnh hưởng phương Tây nên có chất phiêu diêu, nồng nàn và thiết tha nhưng cũng đầy nức nở, đớn đau và tất cả là nỗi buồn dai dẳng đầy sự ám ảnh.
Điều này cũng thật dễ hiểu bởi cuộc tình của Lê Uyên Phương khá gập ghềnh và trắc trở. Cô học trò Lâm Phúc Anh xinh đẹp con của một gia đình giàu có ở Sài Gòn được gửi lên Đà Lạt học ở trường Tây - Virgo Maria và đã si mê tiếng đàn của thầy giáo dạy Triết học Lê Văn Lộc.
Nhạc sĩ Anh Việt Thu tên thật là Huỳnh Hữu Kim Sang, quê Cái Bè – An Hữu thuộc tỉnh Tiền Giang. Bút danh này theo lời anh Vũ Anh Sương (làm thơ – bạn của Anh Việt Thu) xuất phát từ câu chuyện gia đình: tên Việt Thu là em trai của ông, do ông phải bảo bọc người em nên đặt tên như thế để nhớ trách nhiệm của mình tức “anh của Việt Thu”. Anh Việt Thu hoạt động văn nghệ ở Sài Gòn vào những năm 70. Các bài hát của ông đã quá quen với chúng ta như Đa tạ, Người ngoài phố, Tám điệp khúc, Hai vì sao lạc…
Vào năm 1964 nhạc sĩ Anh Việt Thu từ Sài Gòn lên Tây Ninh dạy học ở trường Nam (nay là trường PTTH Trần Hưng Đạo). Có thể nói ông là người đầu tiên đưa âm nhạc vào học đường thời ấy. Lớp học trò bây giờ ở trên tuổi ngũ thập tri thiên mệnh, vẫn còn nhớ bài hát mang điệu valse ngọt ngào mà thầy Thu đã dạy: “Dòng An Giang sông sâu nước biếc, dòng An Giang cây xanh lá thắm,lã lướt về qua Thất Sơn….
“Dòng An Giang đáy nước in sâu, nhịp cầu tre ngắm bóng say sưa, nắng vẫn chiếu trên làn nước nhấp nhô…
“Đây những người thôn nữ xinh duyên dáng chuyền tay dắt nhau múc mấy vầng trăng đổ đi…”
Ông dạy nhạc có những nét độc đáo khó quên, lúc ngẫu hứng cùng thầy đi bộ từ chợ cũ – thị xã (nơi ông thuê nhà luật sư Đinh) xuống dốc sương mù Mít Một vào khu vườn sầu riêng của hai người bạn tên Muông – Trâm để vui chơi ca hát. Lương bổng thời đó rất khá (tương đương một chiếc xe Honda Nhật) nhưng do tánh nghệ sĩ nên cũng túng thiếu dài dài, có lần ông phải bán chiếc radio 3 band để trả tiền thuê nhà (nên nhớ thời đó có cái radio là quý, nghệ sỹ càng quý hơn vì để nghe nhạc của mình). Đời nghệ sỹ là vậy, xưa thi sĩ Hàn Mặc Tử từng than: Gió trăng có sẵn làm sao ăn? Ông là một trong những người đưa những âm điệu nhẹ nhàng bình dân vào nhạc cùng với các nhạc sỹ Trúc Phương, Châu Kỳ, Minh Kỳ. Lam phương… (Như điệu boléro, ballade, habanera…) và đã từng đỗ hạng ưu khoá I trường quốc gia âm nhạc và kịch nghệ Sài Gòn.
Theo nhạc sĩ Nguyễn Quốc Đông kể : – Trong một dịp xuống Cẩm Giang vào năm 2005, tôi được Vũ Anh Sương cho xem bức thư ông gửi khi sáng tác xong ca khúc Đa Tạ, lời thư rất cảm động: “Mình vừa sáng tác xong 2 bài, độ trung tuần tháng tư trở đi cậu đón nghe, đó là Chân dung và Đa tạ. Hiện mình chưa in ronéo, cuối tháng tới mình in luôn, cậu nhớ mua cái radio nho nhỏ nghe nhạc mình xem sao? Mình vẫn sống vất vưởng cù bất cù bơ…” (thư đề ngày 31/3/66) Cũng vào thời ấy, nhạc sĩ Anh Việt Thu phổ một bài thơ hay của thi sĩ Trường Anh, một nhà giáo ở Gò Dầu, bài “Mưa Cẩm Giang” trích trong tập thơ “Mưa Đêm Nay” xuất bản năm 1964 được thi sĩ Vũ Hoàng Chương đề tựa. Năm 1972,nhạc sĩ Anh Việt Thu là một trong 12 nhạc sĩ du ca có mặt trong tuyển tập nhạc “Hát cho những người sống sót” (Bút nhạc xuất bản 1973) ông đã viết: Một ngày Việt Nam thơm lừng hòa bình, một ngày Việt Nam bay tràn thế giới… Đến năm 1975 ông qua đời tại Sài Gòn, hiện còn người vợ là bà Nguyễn Nữ Hiệp và 2 con trai Việt Bằng, Việt Thanh sống ở Sài Gòn. Còn nhà thơ Thiên Hà viết về người bạn thân: – Với Anh Việt Thu phải nói là người bạn thâm giao của Thiên Hà. Anh Việt Thu đã phổ nhạc rất nhiều bài thơ của Thiên Hà và bài nào cũng nổi tiếng đi vào lòng người cho đến tận hôm nay như: Gió Về Miền Xuôi, Nhớ Nhau Hoài, Xa Dấu Ngựa Hồng… Do cơn bệnh hiểm nghèo những ngày cuối đời Anh Việt Thu tâm sự với Thiên Hà, anh mơ ước có một căn nhà bên cạnh dòng sông như ở Tân Qui, đường Trần Xuân Soạn hay Bình Đông. Có lẽ anh muốn ngắm nhìn dòng nước mỗi ngày như ở vùng An Hữu quê anh thời thơ ấu. Khi Thiên Hà đẩy xe đưa Anh Việt Thu vòng quanh bệnh viện cho khuây khỏa chuyện các thầy thuốc đã bó tay. Qua khoảng sân còn sót từng giọt nắng chiều Anh Việt Thu nhìn bầu trời bao la mà thèm những bông hoa nắng. Hiểu ý bạn Thiên Hà hái một đoá Mẫu Đơn bên vệ đường an ủi, động viên bạn mình. Nhưng rồi cơn bệnh nan y đã ngắt đi cuộc sống của nhạc sỹ Anh Việt Thu tại Y viện Quảng Đông (nay là Bệnh viện Nguyễn Tri Phương) Sài Gòn lúc 2 giờ 40 ngày 15 tháng 03 năm 1975 và đưa đi an táng tại quê nhà. Nhà văn Nguyễn Đình Toàn viết : – Anh Việt Thu mất sớm. Những ngày còn làm việc tại Phòng Văn Nghệ thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị (do Thiếu Tá Ðinh Thành Tiên, tức Thi sĩ Tô Thùy Yên làm trưởng phòng), Anh Việt Thu chắc chỉ mời ngoài 30 tuổi. Nếu chúng tôi nhớ không lầm thì khi ấy, cùng làm việc trong Phòng Văn Nghệ còn có nhạc sĩ Trần Thiện Thanh tức ca sĩ Nhật Trường nữa. Chính trong thời gian này, Anh Việt Thu khám phá bị ung thư nhiếp hộ tuyến (hay phổi?) rồi qua đời. Như thế ca khúc “Dòng An Giang” hẳn đã được Anh Việt Thu viết vào những năm ông còn rất trẻ, ở độ tuổi chưa đến 20, vì bài hát đã nổi tiếng trước đó nhiều năm. Những người quen biết Anh Việt Thu cho biết, ông là người ít nói. Ông hiền lành và sống với bạn bè rất nhiệt tình. Có một thời ông muốn làm nhà xuất bản nhạc, nhưng hình như chỉ in được một, hai tập nhạc ngoại quốc lời Việt, rồi thôi. Có thể coi Anh Việt Thu là thế hệ nhạc sĩ sau cùng sinh trưởng tại miền Nam (nếu lấy ngày 30/04/1975 làm dấu mốc) những người viết nhạc với tâm hồn đôn hậu của người miền Nam, ít cầu kỳ, cả trong giai điệu lẫn ca từ. Nghe nhạc Anh Việt Thu người ta nghĩ đến những kinh rạch chứ không phải những ao hồ. Ao, hồ có một vẻ gì đó u uẩn, tù túng. Kinh, rạch, như lòng người miền Nam, khi thủy triều rút đi, khô cạn, phơi mở không còn gì giấu giếm, lúc thủy triều trở lại, lại kín đáo, tràn đầy. Như bài “Dòng An Giang”. “Tám Ðiệp Khúc” của Anh Việt Thu là một tình khúc. Nhưng ông đã nhập cái tình riêng của mình vào với tình yêu quê hương, đất nước. Một đất nước tràn ngập điêu linh, tang tóc, mỗi tiếng hát như một lời thở than, kêu gọi yêu thương nhiều hơn là tỏ tình. Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn có lần nói rằng, ông rất thích bài hát này của Anh Việt Thu, mặc dầu nghe cả bài trong một lúc khó nắm bắt tác giả nói gì, nhưng nghe từng đoạn tách rời, âm điệu day dứt của nó làm cho rất buồn…
Theo Quế Phượng (cafevannghe)
Nguồn : Nhạc xưa.vn
Link : https://nhacxua.vn/wp-content/uploads/2021/05/logo2.png
HAI VÌ SAO LẠC :
Người về một mùa thu gió heo may Về đâu có nhớ chăng những vì sao long lanh Đưa tiễn người một đêm không trăng Nói sao nên lời lòng buồn như ngừng rơi Như trong đêm khuya những bước chân qua thềm Gợi niềm thương nhớ vô vàn
Người về đường về kết gió trăng sao Người đi có biết chăng trong chiều nay bơ vơ Nghe lá thu vàng rơi bâng khuâng Bước chân ai về từng thời gian ngừng trôi Như quên đêm khuya Để gió sương thêu thùa thầm làm ướt áo vai gầy
Người về chiều mưa hay nắng Sao để khói lam chiều như se chùng màu không gian Người về dòng sông thương nhớ Để bến vắng con đò thương mong chờ người người hay chăng
Người là vì sao nhỏ bé Ta mãi ước cho lòng là một bầu trời xanh xanh Người về lòng ta thương nhớ Ta khẽ hỏi đưa người về hay thầm người đưa ta
Người về người về đâu nhớ ta chăng Người ơi mỗi lá thu rơi làm ta bâng khuâng Như áng mây chiều lam trong sương Bước đi âm thầm lòng buồn như thời gian Nghe chăng thu ơi để lá rơi chi hoài gợi niềm thương nhớ ai nhiều
Người về đường về kết gió trăng sao Người đi có biết chăng trong chiều nay bơ vơ Nghe lá thu vàng rơi bâng khuâng Bước chân ai về từng thời gian ngừng trôi Như quên đêm khuya Để gió sương thêu thùa thầm làm ướt áo vai gầy
Người về chiều mưa hay nắng Sao để khói lam chiều như se chùng màu không gian Người về dòng sông thương nhớ Để bến vắng con đò thương mong chờ người người hay chăng
Người là vì sao nhỏ bé Ta mãi ước cho lòng là một bầu trời xanh xanh Người về lòng ta thương nhớ Ta khẽ hỏi đưa người về hay thầm người đưa ta
Người về người về đâu nhớ ta chăng Người ơi mỗi lá thu rơi làm ta bâng khuâng Như áng mây chiều lam trong sương Bước đi âm thầm lòng buồn như thời gian Nghe chăng thu ơi để lá rơi chi hoài gợi niềm thương nhớ ai nhiều
DÒNG AN GIANG:
Giòng An Giang sông sâu nước biếc, Giòng An Giang cây xanh lá thắm, lả lướt về qua Thất Sơn, Châu đốc giòng sông uốn quanh, soi bóng Tiền Giang Cửu Long.
Giòng An Giang xanh xanh khóm trúc, Giòng An Giang tung tăng múa hát, đêm đến giòng sông thở than bên mấy hàng cây hắt hiu đã mấy mùa xuân thanh bình.
Giòng An Giang đáy nước in sâu, Nhịp cầu tre ngắm bóng say sưa, nắng vẫn chiếu trên làn sóng nhấp nhô, nắng vẫn chiếu trên gò má hây hây mơ màng, ngây thơ. Cô thôn quê đang giặt yếm trên sông, tiếng sáo vắng trên đồng lúa xanh tươi trâu lang thang đôi cò trắng tung bay dập dìu.
Giòng An Giang ai qua vẫn nhớ, Giòng An Giang lơ thơ bến nước, đâu những thuyền ai lắc lơ đôi mái chèo trăng lướt qua lơ lửng vầng trăng vỡ tan.
Giòng An Giang đáy nước in sâu, Nhịp cầu tre ngắm bóng say sưa, nắng vẫn chiếu trên làn sóng nhấp nhô, nắng vẫn chiếu trên gò má hây hây mơ màng ngây thơ. Cô thôn quê đang giặt yếm trên sông, tiếng sáo vắng trên đồng lúa xanh tươi trâu lang thang đôi cò trắng tung bay dập dìu.
Giòng An Giang ai qua vẫn nhớ, Giòng An Giang lơ thơ bến nước, đâu những thuyền ai lắc lơ đôi mái chèo trăng lướt qua lơ lửng vầng trăng vỡ tan.
Giòng An Giang sông sâu nước biếc, Giòng An Giang cây xanh lá thắm, đây những người thôn nữ xinh duyên dáng chuyền tay dắt nhau múc mấy vầng trăng đổ đi
Trong sinh hoạt âm nhạc ở miền Nam trước năm 1975, có 3 cặp “uyên ương” thường xuất hiện trên sân khấu. Đó là cặp Trịnh Công Sơn - Khánh Ly, cặp Lê Uyên & Phương và cặp Từ Dung - Từ Công Phụng. Hai cặp đầu rất “nổi đình nổi đám”, trái lại cặp sau thì rất... bí ẩn !
Thực ra thì với khán giả lứa tuổi trung niên, nhiều người vẫn còn nhớ đến cặp song ca Từ Dung - Từ Công Phụng bởi cái “e” nhạc của họ. Không dữ dội, nồng nàn như Lê Uyên Phương hoặc triết lý cao siêu như nhạc Trịnh, nhạc của Từ Công Phụng đầy chất trữ tình, êm ái với ca từ trau chuốt, sang trọng...
Trai tài gặp giai nhân
Từ Công Phụng sinh năm 1942 tại Văn Lâm (Phan Rang, Ninh Thuận), là người dân tộc Chăm, với những tố chất âm nhạc phát triển trong tâm hồn từ rất sớm. Cậu bé họ Từ đã từng ngây ngất khi nghe người anh cả đệm đàn guitar hát Con thuyền không bến (Đặng Thế Phong) hoặc Trương Chi (Văn Cao)... Mày mò học đàn với người anh rồi Từ Công Phụng trở thành cây văn nghệ nòng cốt của các trường trung học Duy Tân, Phan Rang, Đà Lạt, với giọng hát rất truyền cảm. Không qua một trường lớp chính quy nào, nhưng với năng khiếu bẩm sinh và tâm hồn nhạy cảm, năm học lớp đệ nhị (lớp 11 bây giờ) anh viết tác phẩm đầu tay Bây giờ tháng mấy lúc mới 18 tuổi (1960). Tuy nhiên do bản tính nhút nhát và không mấy tự tin vào tác phẩm đầu tay nên chỉ khi Từ Công Phụng lên sống ở Đà Lạt, hợp tác với Lê Uyên & Phương trong ban nhạc Ngàn Thông thì ca khúc Bây giờ tháng mấy mới được phát trên Đài phát thanh Đà Lạt và lập tức nổi tiếng... Từ đó, vừa tự học vừa sáng tác, Từ Công Phụng cho ra đời những ca khúc trữ tình mà sang trọng, chen lẫn chút chán chường, chua xót như: Mùa xuân trên đỉnh bình yên, Tuổi xa người, Mắt lệ cho người...
Từ Dung là con gái của nhà văn Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long) trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn, là cháu ruột của hai nhà văn Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam) và Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân). Cô sinh năm 1945, là con út trong số 4 người con (3 gái, 1 trai) của nhà văn. Từ Dung mồ côi cha năm 3 tuổi (Hoàng Đạo lên cơn đau tim và qua đời ngày 22.7.1948 trên chuyến xe lửa từ Hồng Kông về Quảng Châu, Trung Quốc). Không biết bà Hoàng Đạo đưa các con vào Sài Gòn lúc nào nhưng người ta cũng đã ghi nhận trong đám tang nhà văn Nhất Linh vào ngày 7.7.1963, cô đội mũ tang đi trong đoàn người đưa tiễn. Năm 1965, Từ Dung tốt nghiệp tú tài toàn phần và đến năm 1969 lấy bằng cử nhân văn chương. Không chỉ học hành đến nơi đến chốn, Từ Dung còn là một giai nhân của Sài Gòn lúc bấy giờ, cô từng đoạt danh hiệu á hậu trong một cuộc thi sắc đẹp tại miền Nam với vẻ đẹp lộng lẫy và nổi bật làn da trắng...
Từ Dung rất say mê ca hát và được trời ban cho một chất giọng khá hay. Cô theo học thanh nhạc với ca sĩ Châu Hà (vợ của nhạc sĩ Văn Phụng). Chính môi trường này đã đưa đẩy Từ Dung gặp gỡ Từ Công Phụng. Ngoại hình to lớn nhưng phong thái lại rất nghệ sĩ, ăn nói nhẹ nhàng, lịch sự của Từ Công Phụng đã chinh phục trái tim người đẹp.
Đoạn cuối cuộc tình
Lần đầu họ xuất hiện bên nhau là ở quán Văn trong khuôn viên Đại học Văn khoa với ca khúc Bây giờ tháng mấy vào năm 1967. Họ thường sinh hoạt ở quán Văn cùng thời với cặp Khánh Ly - Trịnh Công Sơn. Sau khi quán Văn đóng cửa thì họ chuyển về quán Gió của Nam Lộc trên đường Võ Tánh.
Năm 1971, Từ Dung bắt đầu xuất hiện trên ti vi và có mặt trong cuộn băng Tơ Vàng 3. Cô song ca với Từ Công Phụng hai bài: Vùng trời kỷ niệm, Mùa thu mây ngàn và đơn ca ba bài: Đêm không cùng, Lời cuối và Đêm độc thoại. Riêng ca khúc Trên ngọn tình sầu được phổ từ bài thơ nổi tiếng của Du Tử Lê Khúc thêm cho Huyền Châu. Đó không phải là bài hát Từ Công Phụng sáng tác riêng cho Từ Dung nhưng đã từng được đôi uyên ương này song ca. Ca từ (lời thơ) lại như viết sẵn, như tiên tri về cuộc tình của hai người: “Hạnh phúc tôi, hạnh phúc tôi từ những ngày con nước về. Ngoài trời mưa mau, ngoài trời mưa mau. Tay vuốt mặt không cùng. Bầy sẻ cũ hom hem. Chiều mái xám rêu xanh. Trời êm cao chân nhỏ. Cũng không về trên dòng sông tội lỗi... Tôi nghe hắt hiu từ mắt em ngắt tạnh. Môi thâm khô từ thuở định hôn người. Ngày tháng hạ khi không mà trở rét. Giọt nắng vàng lung linh màu lạnh ngắt. Sao khi không người ngoảnh mặt kiêu sa...”.
Sau năm 1975, họ hùn vốn với một gia đình khác mở quán cà phê trên đường Trần Quang Khải (quận 1, TP.HCM) lấy tên là “Café Từ Dung”. Quán có cây đàn piano trắng, lâu lâu lại có violin, tức là chơi nhạc sống. Nhạc sĩ, ca sĩ hoặc ai lên hát thì khỏi phải trả tiền cà phê và thường thì hát “nhạc chui” tức là nhạc trước 1975. Trịnh Công Sơn, Lệ Thu và nhiều nghệ sĩ khác từng lui tới quán này...
Sống với nhau có một con gái thì Từ Dung - Từ Công Phụng chia tay, một cuộc chia tay lặng lẽ, chẳng ai biết được nguyên nhân...
Năm 1980, Từ Công Phụng sang Mỹ và lập gia đình với một người phụ nữ tên là Kim Ái. Thời gian này, Từ Dung còn ở lại Việt Nam, bà mướn một căn phòng trong cư xá Ngân hàng (quận 3) và có biểu hiện trầm cảm. Bà ít khi mở miệng nói với ai một lời nào. Đêm đêm, bà thường ngồi lặng lẽ trong bóng tối trước hiên thềm như một pho tượng. Một thời gian sau, Từ Dung qua cơn trầm cảm, cũng sang định cư tại Hawaii (Mỹ) và đã lập gia đình với một người đàn ông Mỹ
Theo FB Long Đàng
Bây giờ tháng mấy - SĨ PHÚ trình bày
Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em
Lênh đênh ngàn mây trôi êm đềm
Chiều nay nếu em đừng hờn dỗi
Cách nhau một lần thôi
Tâm hồn mình đâu lẻ đôi
Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em
Anh đi tìm màu hoa em cài
Chiều nay nhớ em rồi và nhớ
Áo em đẹp màu thơ
Môi tràn đầy ước mơ
Mai đây anh đưa em đi về
Mưa giăng chiều nắng tàn
Cho buốt lạnh chúng mình
Em ơi thôi đừng hờn anh nữa
Nhìn nhau buồn vời vợi
Để mùa đông buốt giá bờ vai mềm
Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em
Anh đi tìm mùa xuân trên đời
Mùa đông chết đi rồi mùa xuân
Mắt em đẹp trời sao
Cho mình thương nhớ nhau
Mai đây anh đưa em đi về
Mưa giăng chiều nắng tàn
Cho buốt lạnh chúng mình
Em ơi thôi đừng hờn anh nữa
Nhìn nhau buồn vời vợi
Để mùa đông buốt giá bờ vai mềm
Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em
Anh đi tìm mùa xuân trên đời
Mùa đông chết đi rồi mùa xuân
Mắt em đẹp trời sao
Cho mình thương nhớ nhau
Những bài hát nổi tiếng của Nhạc sĩ Từ Cong Phụng :
Khi thấy chữ nhỏ muốn cho to ra, hãy nhấn vô Ctrl Key(bên trái phía dưới bàn gõ) đồng thời gõ vô Key dấu + (góc phải phía trên). Nếu gõ một lần chữ chưa đủ lớn, thì gõ hai lần, ba lần ... Ngược lại, Bấm Ctrl Key và Key dấu -( kế góc phải phía dưới ), chữ sẽ nhỏ lại.