Thứ Bảy, 9 tháng 12, 2023

Nhạc sĩ NGUYỄN ÁNH 9


Nguyễn Ánh 9 là nhạc sĩ nổi tiếng với những ca khúc sáng tác cả trước và sau năm 75 là Không, Ai Đưa Em Về, Buồn Ơi Chào Mi, Tình Khúc Chiều Mưa, Cô Đơn, Bơ Vơ, Tiếng Hát Lạc Loài, Mùa Thu Cánh Nâu, Tình Yêu Đến Trong Giã Từ… Ông đồng thời cũng là nhạc công piano nổi tiếng từ trước năm 1975, đã hợp tác với các vũ trường, phòng trà và đệm đàn cho nhiều danh ca Sài Gòn.
Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 tên thật là Nguyễn Đình Ánh, sinh năm 1940, là con út trong một gia đình khá giả có ba người con tại tỉnh Ninh Thuận. Sau đó gia đình ông chuyển đến Nha Trang, đến năm ông 11 tuổi thì vào Sài Gòn sinh sống.

Đó là xuất xứ của cái tên Nguyễn Ánh 9 nổi tiếng trong âm nhạc Việt Nam từ thập niên 1970 trở về sau. Việc lấy nghệ danh này cũng đánh dấu một sự biến chuyển quan trọng của cuộc đời, đó là từ nhạc công trở thành một nhạc sĩ. Thưở nhỏ Nguyễn Ánh 9 theo học trường Taberd ở Sài Gòn (nay là trường Trần Đại Nghĩa), đến năm 14 tuổi thì lên Đà Lạt để học nội trú tại trường Yersin cho đến năm 1958. Ông từng bỏ nhà đi năm 18 tuổi để theo đuổi đam mê âm nhạc, vì sự ngăn cấm của gia đình.

Năm 1955, trong thời gian học ở Đà Lạt, ông có quen biết với nhạc sĩ Hoàng Nguyên – tác giả của Ai Lên Xứ Hoa Đào, và được nhạc sĩ này dìu dắt vào con đường âm nhạc. Cứ mỗi ngày chủ nhật hàng tuần, nhạc sĩ Hoàng Nguyên vào trường nội trú để đón ông về nhà để truyền đạt những kiến thức căn bản về âm nhạc. Sau khi tốt nghiệp Tú tài 2, qua sự giới thiệu của nhạc sĩ Hoàng Nguyên, Nguyễn Ánh 9 được vào tham gia chương trình Tuổi Xanh của Đài phát thanh Sài Gòn và Đài phát thanh Đà Lạt. Ông cũng cộng tác với chương trình Tiếng hát sinh viên do Duy Trác thực hiện. Từ đó, Nguyễn Ánh 9 đi khắp nơi biểu diễn piano ở các bar, các nhà hàng nổi tiếng. Nguyễn Ánh 9 bắt đầu sự nghiệp viết nhạc một cách rất tình cờ, bắt đầu từ chuyến đi Nhật biểu diễn cùng ca sĩ Khánh Ly vào tháng 8 năm 1970. Lần đó Khánh Ly được phía Nhật mời sang biển diễn trong khuôn khổ hội chợ văn hóa tại Osaka, và Nguyễn Ánh 9 đi cùng với vai trò là nghệ sĩ đệm đàn guitar cho Khánh Ly hát.
Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 kể lại rằng sau buổi diễn, khi cùng với Khánh Ly đứng chờ thang máy lên phòng khách sạn, thấy người bạn mình mang vẻ mặt buồn buồn, Khánh Ly lên tiếng hỏi: “Còn thương nó không bạn?” – Ý muốn hỏi về mối tình đầu năm 18 tuổi của ông mà Khánh Ly đã từng được nghe ông tâm sự. Sẵn cây đàn guitar trên tay, Nguyễn Ánh 9 gảy ngay rồi ngẫu hứng cất tiếng hát: “Không! Không! Tôi không còn, tôi không còn yêu em nữa…”.

Lúc đầu ông lấy tựa đề bài hát là “Không, Không… Tôi Không Còn Yêu Em Nữa”, với cảm hứng là từ một ca khúc của Christopher mang tên “Non, Non, Je ne t’aime plus”. Về sau, Nguyễn Ánh 9 cắt gọn tất cả, tựa đề chỉ còn lại một chữ “KHÔNG” duy nhất. Ca khúc “Không” được Khánh Ly thu lần đầu trong đĩa nhựa của dĩa nhạc Tình Ca Quê Hương. Bài hát này cũng đã trở thành một trong những nhạc phẩm gắn liền với cuộc đời ca hát của Elvis Phương sau đó.

Ngoài ra, bài “Không” cũng vượt ra khỏi ranh giới Việt Nam khi được nữ diva người Đài Loan Đặng Lệ Quân hát bằng cả lời Hoa lẫn lời Nhật, và rất được ưa chuộng tại các thị trường này.

Trước năm 1975, có 2 sáng tác rất nổi tiếng khác của ông, rất được yêu thích cho đến ngày nay, đó là Buồn Ơi Chào Mi và Tình Khúc Chiều Mưa.  Ca khúc Buồn Ơi Chào Mi đặc biệt được yêu thích với giọng hát của danh ca Sĩ Phú, mời bạn nghe bên dưới:

Những năm đầu thập niên 1970, Nguyễn Ánh 9 cộng tác với nhiều vũ trường lớn ở Sài Gòn để đệm piano cho hầu hết những danh ca thời đó. Trong một cuộc phỏng vấn, Nguyễn Ánh 9 đã nói rằng ông thích nhất được đệm đàn cho hai danh ca Thái Thanh và Khánh Ly. Trong thời gian Nguyễn Ánh 9 làm làm việc tại phòng trà Anh Vũ, ông quen biết 1 nữ vũ công tại đây là bà Ngọc Hân. Năm 1965, họ kết hôn với nhau, khi đó ông 25 tuổi còn bà Ngọc Hân vừa tròn 20. Sau khi lấy nhau, bà quyết định bỏ nghề vũ công, toàn tâm toàn ý chăm lo gia đình để ông theo nghiệp âm nhạc. Sự hy sinh của bà nhiều lần được nhạc sĩ nhắc đến bằng tất cả lòng tri ân như sau: “Vợ tôi là một người phụ nữ dịu hiền nhân hậu, có lẽ chẳng người phụ nữ nào đủ vị tha và hy sinh cho chồng mình như cô ấy. Tôi mắc nợ trọn kiếp với người bạn đời, bởi tình yêu đã vĩnh viễn câm lặng, trái tim tôi không còn cảm giác sau hình ảnh của mối tình đầu”.

Sau tháng 4 năm 1975, thời gian đầu Nguyễn Ánh 9 cùng đi diễn ở các tỉnh với đoàn văn nghệ của ca nhạc sĩ Duy Khánh. Từ 1976, ông làm nhân viên kiểm soát xe lưu thông tại Xa cảng miền Tây cho đến năm 1978. Một thời gian Nguyễn Ánh 9 có mở một lớp dạy dương cầm. Năm 1982, Nguyễn Ánh 9 trở lại với âm nhạc; ông tiếp tục tham gia các chương trình hòa tấu và biểu diễn dương cầm ở nhiều nơi. Những năm cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990, Nguyễn Ánh 9 có viết thêm một số ca khúc nữa như Mênh Mông Tình Buồn, Cho Người Tình Xa đặc biệt là chuỗi 3 bài hát có phần liên quan đến nhau: Cô Đơn, Bơ Vơ và Tiếng Hát Lạc Loài.

Trong một lần đứng trên sân khấu hải ngoại năm 2006 – tròn 10 năm trước khi  qua đời – ông từng chia sẻ rằng nếu một ngày nào đó ông còn nữa, thì ông chỉ mong khán giả nhớ đến một bài hát mà ông yêu nhất và trân trọng nhất, đó là bài Cô Đơn. “Hạnh phúc như đôi chim uyên tung bay ngập trời nắng ấm Hạnh phúc như sương ban mai long lanh đầu cành nắng ấm…” (Cô Đơn) 


Cho đến những năm cuối đời, Nguyễn Ánh 9 vẫn biểu diễn, tham gia một số đêm nhạc của ca sĩ Ánh Tuyết. Ông thường chơi dương cầm hàng tuần tại khách sạn Sofitel Plaza Saigon. Sau một thời dài với căn bệnh viêm phổi, suy tim, vào lúc trưa 14 giờ 00, ngày 14 tháng 4 năm 2016 ông hôn mê, và trút hơi thở cuối cùng tại Bệnh viện Đại học Y – Dược Sài Gòn, hưởng thọ 77 tuổi. 

Đông Kha

Nguồn : NhacXua.net 

Link :  https://nhacxua.vn/

Click HERE ( Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 )

Thứ Sáu, 8 tháng 12, 2023

Nhạc sĩ PHẠM DUY

 

Phạm Duy sinh tại Hà Nội năm 1921, theo học các Trường Trung Học Thăng Long, Cao Ðẳng Mỹ Thuật, Kỹ Nghệ Thực Hành, tự học nhạc và đi huấn nghệ tại Pháp trong hai năm 1954-1955, học trò của Robert Lopez và bàng thính viên tại Institut de Musicologie, Paris.

Khởi sự đời nhạc của mình là một ca sĩ trong gánh hát Ðức Huy, đi hát lưu động trong những năm 1943-1945. Rồi trở thành cán bộ văn nghệ trong cuộc Kháng Chiến chống Pháp. Vào sinh sống tại miền Nam một vài năm trước khi đất nước bị phân chia, trong suốt hơn 20 năm, Phạm Duy là người phản ảnh đầy đủ mọi khía cạnh đời sống tình cảm của người dân trong nước.

Phạm Duy chia sự nghiệp của mình ra nhiều giai đoạn :

* Khởi đi từ dân ca, ghi lại hình ảnh người dân Việt Nam trong thời đấu tranh giành độc lập rồi tới trường ca là liên khúc của nhiều bài dân ca, nói lên sự vĩ đại của dân tộc Việt.

* Sau đó là tâm ca, những bài ca thức tỉnh lương tâm, phản đối bạo lực và lòng phi nhân.

* Tới đạo ca, mang tính chất thiền ca, là những bài hát đi tìm sự thật.

* Rồi tới tục ca, những bài hát tiếu lâm nói thẳng vào cuộc đời đầy rẫy ngụy thiện.

* Tới bé canữ ca và bình ca là những khúc hoan ca.

* Chưa kể những tình khúc mà suốt 40 năm qua, nghĩa là trải qua ba thế hệ, bất cứ đôi tình nhân Việt Nam nào cũng đều hát tới và sẽ nhớ mãi.

Sau biến cố tháng Tư năm 1975, Phạm Duy và gia đình di cư qua Hoa Kỳ, cư ngụ tại Midway City, California, tiếp tục hành nghề hát rong và thường xuyên có mặt tại khắp nơi trên thế giới để hát những bài thuộc loại mới là tị nạn ca, ngục ca và hoàng cầm ca.

Từ mùa Xuân 1988, với sự hợp tác của con trai Duy Cường, Phạm Duy chuyển hướng từ nhạc đơn điệu qua nhạc đa điệu. Sau khi tung ra 10 bài rong ca với nhan đề Người Tình Già Trên Ðầu Non hay là Hát Cho Năm 2000, Phạm Duy hoàn tất Tổ Khúc Bầy Chim Bỏ Xứ, bài này được khởi soạn từ 1975 và phải đợi 15 năm sau mới hoàn thành. Các trường ca Con Ðường Cái Quan và Mẹ Việt Nam cũng được phóng tác để trở thành nhạc giao hưởng.

Tới 1992 thì Phạm Duy rời lĩnh vực nhạc xã hội để tiến qua nhạc tâm linh với những nhạc phẩm Ðạo Khúc Thiền Ca, Trường Ca Hàn Mặc Tử...

1995 là lúc Phạm Duy đi vào kỹ thuật để thăng tiến nghệ thuật, tức là đi vào lãnh vực Multimedia. Ðĩa CD-Rom đầu tiên của người Việt Nam trên thế giới đã ra đời, mang tựa đề Voyage Through Motherland - Hành Trình Trên Ðất Mẹ (với trường ca Con Ðường Cái Quan là bản nhạc chính).

Từ 1997, Phạm Duy muốn được kết thúc sự nghiệp của mình vào năm 2000 và sẽ hoàn tất vào lúc đó một nhạc phẩm lớn, mang cao vọng thăng hoa được con đường dân ca mà ông đã chọn từ khi mới nhập cuộc hát rong, hát dạo. Nhạc phẩm đó là MINH HỌA TRUYỆN KIỀU, hoàn tất năm 2010.

Nhạc sĩ Phạm Duy đã hồi hương năm 2005, và tạ thế tại Sài Gòn ngày 27 tháng 1 năm 2013, trong niềm tiếc thương vô hạn của những người yêu quý dòng nhạc Phạm Duy.



Click here : Nhạc Sĩ PHẠM DUY


Nhạc sĩ PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG ( Hoài Bắc )


Phạm Đình Chương
 (1929 – 1991) là một nhạc sĩ tiêu biểu của dòng nhạc tiền chiến và là một tên tuổi lớn của tân nhạc Việt Nam. Ngoài ra ông còn là một ca sĩ với nghệ danh Hoài Bắc.

Phạm Đình Chương sinh ngày 14 tháng 11 năm 1929 tại Bạch Mai, Hà Nội. Quê nội ông ở Hà Nội và quê ngoại ở Sơn Tây. Xuất thân trong một gia đình truyền thống âm nhạc, thân phụ của Phạm Đình Chương là ông Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của ông Phụng sinh được hai người con trai: Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ Mai Hương. Còn Phạm Đình Viêm là ca sĩ Hoài Trung của ban hợp ca Thăng Long.

Người vợ sau của ông Phạm Đình Phụng có 3 người con: trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy. Con trai thứ là nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Và cô con gái út Phạm Thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh.

Ông được nhiều người chỉ dẫn nhạc lý nhưng phần lớn vẫn là tự học. Trong những năm đầu kháng chiến, Phạm Đình Chương cùng các anh em Phạm Đình Viêm, Phạm Thị Quang Thái và Phạm Thị Băng Thanh gia nhập ban văn nghệ Quân đội ở Liên Khu IV.

Phạm Đình Chương bắt đầu sáng tác vào năm 1947, khi 18 tuổi, nhưng phần nhiều những nhạc phẩm của ông thường được xếp vào dòng tiền chiến bởi mang phong cách trữ tình lãng mạn. Các nhạc phẩm đầu tiên như Ra đi khi trời vừa sángHò leo núi... có không khí hùng kháng, tươi trẻ.

Năm 1951 ông và gia đình chuyển vào miền Nam. Với nghệ danh Hoài Bắc, ông cùng các anh em Hoài Trung, Thái Thanh, Thái Hằng lập ban hợp ca Thăng Long danh tiếng. Thời kỳ này các sáng tác của ông thường mang âm hưởng của miền Bắc như nói lên tâm trạng hoài hương của mình: Khúc giao duyênThằng CuộiĐược mùaTiếng dân chài... Thời gian sau đó, ông viết nhiều bản nhạc nổi tiếng và vui tươi hơn: Xóm đêmĐợi chờLy rượu mừngĐón xuân...

Sau khi cuộc hôn nhân với ca sĩ Khánh Ngọc tan vỡ, ông bắt đầu sáng tác tình ca. Ông đem tâm trạng đau thương vào những bài nhạc tình da diết, đau nhức, buốt giá tâm can: Đêm cuối cùng,Thuở ban đầuNgười đi qua đời tôiNửa hồn thương đau.

Có thể nói Phạm Đình Chương là một trong những nhạc sĩ phổ thơ hay nhất. Nhiều bản nhạc phổ thơ của ông đã trở thành những bài hát bất hủ, có một sức sống riêng như: Đôi mắt người Sơn Tây (thơ Quang Dũng), Mộng dưới hoa (thơ Đinh Hùng), Nửa hồn thương đau (thơ Thanh Tâm Tuyền), Đêm nhớ trăng Sài Gòn (thơ Du Tử Lê)... Phạm Đình Chương cũng đóng góp cho tân nhạc một bản trường ca bất hủ Hội trùng dương viết về ba con sông Việt Nam: sông Hồng, sông Hương và sông Cửu Long.

Sau 1975 Phạm Đình Chương định cư tại California, Hoa Kỳ. Ông mất 22 tháng 8 năm 1991 tại California. Theo một số tài liệu khác thì ông mất năm 1993.

Theo wikipedia.org

Click here :  Nhạc sĩ PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG

Góc Thư giản

Khi thấy chữ nhỏ muốn cho to ra, hãy nhấn vô Ctrl Key (bên trái phía dưới bàn gõ) đồng thời gõ vô Key dấu + (góc phải phía trên). Nếu gõ một lần chữ chưa đủ lớn, thì gõ hai lần, ba lần ...
Ngược lại, Bấm Ctrl KeyKey dấu -( kế góc phải phía dưới ), chữ sẽ nhỏ lại.