Thứ Hai, 8 tháng 8, 2016

Cholesterol là gì ?

Kết quả hình ảnh cho cholesterol là gì
Cholesterol là gì? Tại sao chúng ta phải quan tâm đến Cholesterol trong cơ thể ?
• Bạn bị bệnh tiểu đường, có nồng độ hocmon tuyến giáp thấp gọi là chứng suy giáp, hoặc bệnh thận.
Có 3 loại mỡ chính trong máu bạn:
• Lipoprotein mật độ cao (High Density Lipoproteins hay HDL):cholesterol “tốt” này mang cholesterol dư trong máu bạn về lại gan đểgan bạn loại trừ nó.
• Lipoprotein mật độ thấp (Low Density Lipoproteins hay LDL):cholesterol “xấu” này nằm trong máu bạn đóng đầy trên mạch máu.Điều này có thể làm mạch nhỏ lại, làm máu khó lưu thông.
• Chất béo trung tính (Triglyceride) : Ăn quá nhiều tinh bột có thể gia tăng mức chất béo trung tính. Thử nghiệm máu đo mức chất mỡ trong máu. Kết quả sẽ cho bạn biết:Tổng cộng mức cholesterol trong máu:
• Mức khỏe mạnh là dưới 200.
• Nếu tổng cộng cholesterol trên 200, bác sĩ bạn sẽ kiểm tra HDL, LDL và chất béo trung tính.Mức HDL cholesterol trong máu:Đây là cholesterol “tốt”: số càng cao, thì càng tốt.
• Mức bình thướng khỏe mạnh là 60 và cao hơn.
• Bàn với bác sĩ về cách chữa trị nếu mức thấp hơn 40.Mức LDL cholesterol trong máu:Đây là cholesterol “xấu”: số càng thấp, thì càng tốt.
• Mức mạnh khỏe là dưới 100.
• Bác sĩ bạn có thể muốn mức LDL thấp hơn 70 nếu bạn vừa mới cóvấn đề bệnh tim.
• Bàn với bác sĩ về cách chữa trị nếu mức là 130 hay cao hơn.Mức chất béo trung tính trong máu• Mức mạnh khỏe là dưới 150.
• Bàn với bác sĩ về cách chữa trị nếu mức là 200 hay cao hơn.Cách giảm mức cholesterol trong máu
• Đi khám bác sĩ và xin kiểm tra mức cholesterol thường xuyên.
• Bàn với bác sĩ bạn về một chương trình ăn uống và tập thể dục.
• Có thể cần dùng thuốc nếu ăn uống và tập thể dục không đủ.
• Ăn nhiều thức ăn có nhiều chất sợi, chẳng hạn như hạt nguyên, đậu, và trái cây và rau tươi.
• Hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và mỡ bảo hòa và nhiều chất đa béo không bảo hòa, chẳng hạn như thịt bò, thịt heo, phô mai, sữa nguyên chất, hoặc mỡ lợn.
• Ăn nhiều thức ăn ít mỡ chẳng hạn như ức gà không da, cá hoặc sữa khử béo.
• Chọn thức ăn có nhiều mỡ đơn bảo hòa, chẳng hạn như dầu ô liu hoặc canola và hạt.
• Nướng vỉ hoặc quay thức ăn thay vì chiên.Cholesterol là chất mỡ cơ thể bạn cần để hoạt động. Nó được làm ra trong gan và có trong thức ăn từ súc vật, như thịt, trứng, sản phẩm sữa, bơ, và mỡ heo. Quá nhiều cholesterol trong máu có thể hại cơ thể và gia tăng nguy cơ bị bệnh tim.Bạn có thể có nguy cơ bị cholesterol cao trong máu nếu:
• Cơ thể bạn sản xuất quá nhiều cholesterol
• Bạn ăn thức ăn có nhiều mỡ bảo hòa và cholesterolBạn nên tham khảo với bác sĩ cách kiểm soát và theo dõi mức cholesterol của bạn.
Bác sĩ Trịnh Hữu Thọ

ĐI BỘ : 1 phương thuốc hay

Đi bộ là một phương thuốc không tốn tiền mà có thể mang lại sức khoẻ, đặc biệt cho người già. Không ai lại không có đủ khả năng đi bộ. Có thể bạn không đủ sức đi bộ rất xa và rất nhanh nhưng đi bộ ở một mức nào đó thì phần đông chúng ta đều làm được. Đi bộ có vẻ tương đối dễ làm so với việc chạy bộ hoặc trượt tuyết nhưng đừng nên nghĩ rằng nó quá tầm thường trong lợi ích hấp thụ dưỡng khí và khả năng làm cho ta có một thân thể khoẻ mạnh.

Theo một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Y học Heller ở Tel Aviv thì tình trạng cơ thể khoẻ mạnh do hấp thụ dưỡng khí được cải thiện đáng kể trong vòng ba tuần lễ bằng cách đi bộ mỗi ngày với một túi đeo lưng nhẹ. Trong cuộc nghiên cứu này, những người có thân hình yếu ớt nhất lại tỏ ra có sự cải thiện nhanh nhất về thể chất. Những đối tượng của cuộc nghiên cứu đã đi với tốc độ 3 dặm/giờ trong 30 phút mỗi ngày, 5 lần mỗi tuần và mang một túi đeo lưng chỉ nặng chừng 6,5 cân Anh (pounds). Sau 3 tuần lễ, những người tham dự chứng tỏ có sự cải thiện khả năng hấp thụ dưỡng khí trung bình là 15%. Sau 4 tuần lễ, sự cải thiện này là 18%. Khi họ mang nặng gấp đôi trong tuần lễ thứ tư thì sự cải thiện trung bình tăng lên đến 30%. Ngoài việc cải thiện tình trạng cơ thể khoẻ mạnh do hấp thụ dưỡng khí, đi bộ cũng làm thay đổi những phản ứng hoá học trong cơ thể tốt hơn. Bác sĩ chuyên khoa nội tiết Dan Streja ở California nói : “Đi bộ cũng tốt như chạy bộ. Đi bộ có thể làm thay đổi độ cholesterol, giảm độ đường, insulin và các chất béo. Nó cũng làm giảm cân và làm hạ huyết áp”'. Có lẽ quan trọng hơn hết là có sự thay đổi độ cholesterol rất hứa hẹn. Đặc biệt có sự tăng lượng cholesterol tốt (HDL) lên một chút giúp ngăn ngừa sự tích tụ cholesterol và mỡ trong thành động mạch, làm giảm lượng cholesterol xấu (LDL) và hạ thấp triglycerides (một loại mỡ xấu trong máu). Độ cholesterol tốt (HDL) càng cao thì nguy cơ bệnh tim càng giảm. Ngoài sự gia tăng lượng cholesterol tốt, còn có sự giảm bớt độ insulin tuần hoàn. Nhiều người trong chúng ta có quá nhiều insulin (tức kích thích tố tiết ra bởi tuyến tuỵ giúp chuyển hoá chất đường) nên độ insulin cao đưa đến nguy cơ bệnh tiểu đường và bệnh tim. Còn những người đi bộ trong chương trình nói trên đã có sự giảm bớt insulin đáng kể (trung bình 20%). Nhìn chung, đi bộ đã giúp làm khoẻ tim của họ.

Theo các chuyên viên y tế, nếu đi bộ thường xuyên trong một thời gian lâu dài thì sẽ làm giảm nhiều chứng bệnh như :
- Xốp xương hay loãng xương (osteoporosis) : Đây là một danh từ y học dùng để chỉ tình trạng xương dễ bị tổn thương (dễ gãy) của phần lớn người già, đặc biệt là đàn bà. Nguyên nhân là thiếu chất calcium và thiếu đi bộ. Nếu dùng khoảng 1000mg calcium mỗi ngày sẽ làm ngưng hoặc làm đảo ngược tiến trình bệnh xốp xương thì đi bộ cũng đem lại kết quả tương tự. Người đi bộ nhiều từ lúc còn trẻ thì khi về già sẽ tránh được bệnh xốp xương.
- Mập phì : Mập phì là do thói quen ăn uống nhiều chất béo, nhiều chất đường và không năng vận động. Người mập phì dễ mắc phải những chứng bệnh hiểm nghèo như tim mạch, huyết áp cao, tiểu đường và vài loại ung thư. Vì thế, người mập phì cần phải làm giảm cân để giữ thể trọng bình thường mới khoẻ mạnh được. Đi bộ là một cách tốt nhất, ngoài việc điều tiết chế độ ăn uống cho thích hợp để tránh tăng cân.
- Tiểu đường : Như trên đã nói, người mập phì dễ bị bệnh tiểu đường vì thể trọng tột bực làm cho cơ thể ít nhạy với insulin (chất kích thích giúp kiểm tra độ đường trong máu). Các bác sĩ cho rằng đi bộ mỗi ngày sẽ ngăn chận được bệnh tiểu đường, nhất là bệnh tiểu đường loại 2.
- Tim mạch : Bệnh tim cũng như bệnh cao huyết áp đều do độ cholesterol xấu (LDL) đóng trên thành động mạch làm nghẽn mạch máu. Nhờ đi bộ mà độ cholesterol tốt (HDL) tăng lên  giúp cho trái tim hoạt động tốt và huyết áp giảm bớt.
- Đột quỵ (stroke) : Đột quỵ là sự gián đoạn bất thình lình của dòng máu chảy qua động mạch trong cổ đi tới não. Sự tắc nghẽn này xãy ra do máu bị đóng cục hoặc bị vỡ trong thành động mạch. Không có máu, não không có dưỡng khí duy trì cuộc sống nên các tế bào quý bị giết hại và gây ra cơn đột quỵ. Người lớn tuổi nếu chịu khó đi bộ mỗi ngày sẽ giảm được nguy cơ máu bị đóng cục.
- Trầm uất (depression) : Trầm uất là tình trạng buồn chán do hoàn cảnh sống. Đi bộ làm giảm sự căng thẳng cho người lớn tuổi nên chỉ cần đi bộ trong thời gian từ một năm trở lên thì tự nhiên cảm thấy thoải mái và hết lo nghĩ.
- Phong thấp : Đi bộ giúp chữa bệnh phong thấp rất có hiệu quả vì sẽ làm giảm bớt sự đau nhức do các đầu khớp thiếu chất nhờn. Đi bộ cũng làm cho bộ chân khoẻ lên để chống đỡ toàn bộ thân hình. Nhiều người đã bị tê bại mà nhờ kiên trì 
tập đi bộ nên đi đứng trở lại bình thường.
-Giúp ăn ngon, ngủ sâu: Đi bộ còn tăng cường sự lưu thông khí huyết, giúp bắp thịt săn chắc, kích thích tiêu hoá giúp ăn ngon. Đi bộ nhanh vào buổi chiều giúp có được một giấc ngủ ngon hơn. Tuy nhiên, không nên đi bộ 2 giờ trước khi ngủ vì quá muộn để cơ thể nghỉ ngơi trở lại.
- Duy trì trí nhớ của người cao tuổi: Đi bộ cũng là một cách để luyện tập trí não và giúp người già trở nên minh mẫn, có thể ngăn ngừa bệnh mất trí nhớ ở người già (Alzheimer).
Như vậy, đi bộ là một phương thuốc rất hay, còn chờ gì nữa mà không tự lập một chương trình đi bộ cho chính mình. Vào mùa lạnh thì đi bộ vòng quanh trong nhà hoặc đi lên xuống cầu thang nhiều lần. Vào mùa nắng thì đi bộ ngoài trời trong các công viên hoặc dọc theo bờ hồ thật là lý tưởng. Tuy nhiên, đi bộ lúc nào là thích hợp? Có người thích đi bộ vào buổi sáng sớm khi mới ngủ dậy, có người thích đi bộ vào lúc chiều mát hoặc sau bữa cơm tối. Thật ra, đi lúc nào không thành vấn đề miễn là đừng bao giờ bỏ cuộc. Còn tốc độ và thời gian thì sao ? Bác sĩ Fred A. Stutman đề nghị đi bộ đều đặn từ 45 đến 60 phút, ít nhất 3 lần mỗi tuần. Ông nói tốc độ không quan trọng bằng sự đều đặn miễn sao thấy thoải mái là được. Tốc độ 2 dặm/giờ (chậm) hoặc 3 dặm/giờ (vừa) đều có thể chấp nhận. Ông còn nói thêm là thời gian đi bộ không cần phải liên tục. Chẳng hạn ta có thể chia 45 phút đi bộ mỗi ngày ra làm 3 buổi, mỗi buổi 15 phút. Tuy nhiên, để đạt được kết quả thì nên đi bộ mỗi buổi không dưới 15 phút. Bất cứ chương trình đi bộ nào cũng phải chắc chắn được bắt đầu từ từ. Hãy áp dụng phương châm : “Tập luyện nhưng không ráng sức”.
Có vài lời khuyên mà ta nên ghi nhớ, đặc biệt ở giai đoạn bắt đầu chương trình đi bộ. Trước hết, đừng nỗ lực đi bộ sau một bữa ăn no. Điều này làm cho tim và hệ thống tuần hoàn của bạn làm việc quá sức. Thứ hai, tránh thời tiết khắc nghiệt : đừng đi ra ngoài lúc trời rất lạnh, lúc trời nắng gắt hoặc quá nóng, lúc khí hậu ẩm ướt hoặc có nhiều gió, lúc sáng sớm khi chưa có ánh nắng vì lúc đó cây cối còn nhả khí carbonic. Thứ ba, hãy thoải mái : mặc áo quần thích hợp với thời tiết, mang giày vừa chân và có đế thấp. Phải mua loại giày thể dục mà có chỗ rộng cho các ngón chân, khoảng cách giữa đầu ngón chân dài nhất và đầu trước chiếc giày phải ít nhất ¼ inch và khi mang giày đứng lên thì các ngón chân có thể ngọ nguậy được. Nếu bạn có 2 chân không bằng nhau thì chọn mua giày vừa với chân lớn hơn rồi mang vớ dày hoặc lót miếng đệm cho chân kia. Thứ tư, phải đi cho đúng cách: Có người đi cúi gầm đầu xuống, có người đi choạc hai bàn chân ra v.v.... Tất cả những cách đi xấu đều hạn chế lợi ích có được từ việc đi bộ. Điều quan trọng nhất trong việc đi bộ là dáng điệu. Những người đã đi bộ không đúng cách nay muốn chỉnh đốn dáng điệu cho thân hình và cột sống thì rất khó khăn và phải tập luyện nhiều. Bác sĩ Wikler đề nghị  “giữ đầu cao, cằm song song với mặt đất, ưỡn ngực, đôi vai vươn ngang về phía sau, giữ cho lưng thẳng, đôi chân hướng thẳng về phía truớc”.
Nói chung, đi bộ đều đặn mỗi ngày tự nó đã có tác dụng điều hoà nội tiết và ổn định tâm lý. Nếu đi bộ kết hợp với thiền (hành thiền) thì sẽ giúp gia tăng năng lực tập trung tư tưởng và kiểm soát cảm xúc qua đó có thể nâng cao chỉ số thông minh. Đi bộ nhanh hay chậm là tuỳ điều kiện sức khoẻ nhưng quan trọng là bước đi phải đồng bộ với hơi thở và luôn luôn chú tâm để biết rõ từng bước chân ứng với từng hơi thở vào hoặc thở ra. Chẳng hạn khi bước đi khoan thai, có thể nhẩm trong tâm: hít (khi hít vào) và thở (khi thở ra) hoặc khi đi nhanh hơn, có thể nhẩm: hít, hít (ứng với 2 bước chân khi hít vào) và thở, thở (ứng với 2 bước chân khi thở ra).
Tin chắc mọi người đều muốn tập đi bộ để giữ gìn sức khoẻ nhưng có người còn ngại đi bộ một mình vì buồn tẻ hoặc sợ bị cướp giựt. Vậy thì hai vợ chồng hoặc anh chị em trong nhà hoặc đôi ba người bạn rủ nhau cùng đi bộ. 

Nào, ta hãy cùng đi bộ!

Thở 4 thì trong phương pháp dưỡng sinh của BS Nguyễn Văn Hưởng

Luyện thở là phương pháp giữ gìn sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật của y học phương Đông và cả y học hiện đại. Vào thế kỷ 18, Hải Thượng Lãn Ông đã viết trong quyển Vệ sinh yếu quyết:“Hằng ngày luyện khí chớ quên,Hít vào thanh khí, độc liền thải ra.Làm cho khí huyết điều hòa,Tinh thần giữ vững bệnh tà khó xâm”.Đến thế kỷ 20, trong việc thừa kế phương pháp dưỡng sinh, BS Hưởng cũng đưa ra kỹ thuật luyện thở, trọng tâm là luyện thần kinh, để chủ động hai quá trình ức chế và hưng phấn, nhằm mục đích ngủ ngon giấc, đồng thời hơi thở càng ngày càng mạnh lên, mà hơi thở mạnh thì khí huyết lưu thông tốt, không bị ứ trệ.Công thức 4 thì đơn giản, dễ nhớ, ai cũng có thể thực hiện:
* Thì 1: hít vào đều, sâu, tối đa, ngực nở, bụng phình và cứng. Thời gian 1 / 4 hơi thở.“Hít vào bụng nở ngực căng” để chủ động về lưu lượng và đảm bảo hơi vào sâu tối đa đến tận cùng các phế nang ở các vùng chóp phổi, thân phổi và đáy phổi, ngực nở tối đa, bụng phình song phải bảo đảm cứng, nghĩa là các cơ bụng, cơ hông, cơ đáy chậu phản ứng trở lại cơ hoành để kìm phủ tạng không bung ra.Lúc này ở bụng có áp suất dương và ở ngực có áp suất âm, giúp máu về tim phổi dễ dàng.
* Thì 2: Giữ hơi, cơ hoành và các cơ lồng ngực đều co thắt tối đa, thanh quản mở, giơ chân dao động rồi để chân xuống. Thời gian 1 / 4 hơi thở.“Giữ hơi cố gắng hít thêm”, là thì khó nhất và phức tạp nhất vì nó tăng hiệu suất của hơi thở, hoàn chỉnh việc trao đổi khí oxygen và carbonic, tăng cường sức chủ động của cơ thể, luyện ý chí của con người.Sau thì 1, muốn giữ cho thanh quản mở, ta cố hít thêm tối đa, các cơ thở đã co thắt thì tiếp tục co thắt thêm nữa. Thanh quản đã sẵn mở ta cũng tiếp tục giữ cho nó mở, các lõm ở cổ cũng vẫn lõm như trước, không phình ra. Mặt không đổi sắc, không đỏ gay, áp suất không tăng trong phổi, không chóng mặt, không nhức đầu, không tức ngực.
* Thì 3: Thở ra thoải mái, tự nhiên, không kìm, không thúc. Thời gian 1 / 4 hơi thở.“Thở ra không kìm không thúc”. Tất cả các cơ hoàn toàn buông xuôi. Thở ra tự nhiên, thoải mái, nhờ sức nặng và tính đàn hồi của ngực bụng làm cho nó xẹp xuống, nên chỉ thở ra ở mức gần triệt để (không ép bụng, ép ngực để thở ra triệt để). Người cảm thấy dễ chịu khỏe khoắn.
* Thì 4: thư giãn hoàn toàn, có cảm giác nặng và ấm. Tự kỷ ám thị: tay chân tôi nặng và ấm, toàn thân tôi nặng và ấm. Thời gian 1 / 4 hơi thở.“Nghỉ thời nặng ấm tay chân” là thời kỳ nghỉ hoàn toàn.Trong kỹ thuật thở này, thời gian của 4 thì phải bằng nhau để lập lại quân bình giữa hưng phấn và ức chế, thì 2 rất quan trọng vì nó luyện thần kinh, ý chí làm chủ hơi thở. Thời gian của mỗi hơi thở không thể định trước một cách chủ quan mà phải dựa trên cảm giác của cơ thể thấy khỏe (vì đủ oxygen) thì tự nhiên nhịp thở chậm lại. Thông thường, ban đầu thở khoảng 15 lần một phút, về sau giảm xuống còn 12 lần, 10 lần, 8 lần… Khi thở đúng kỹ thuật, đủ oxygen thì không có hiện tượng ngộp hơi, ngáp, buồn ngủ, nhức đầu. Cảm giác tốt nhất là sảng khoái và nóng bừng toàn thân.Cơ sở khoa học của 4 thì thở ngày càng được chứng minh:- Một nghiên cứu năm 1997, đo thể tích thông khí khi thở 4 thì, đã cho thấy: Lưu lượng khí mỗi phút khi thở 4 thì lớn hơn khi thở thường.- Năm 2004, một nghiên cứu “Thăm dò sự thay đổi lưu lượng máu tại động mạch cảnh chung ở người luyện thở theo phương pháp Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng”, được thực hiện tại Quân y viện 175, trên các học viên ở câu lạc bộ dưỡng sinh, tuổi từ 20 đến 72, đã cho kết quả: Lưu lượng máu tại động mạch cảnh chung khi thở sâu và thở tối đa đều tăng so với khi thở thường và độ tăng lưu lượng máu khi thở tối đa lại lớn hơn khi thở sâu.Thật vậy, khi hít không khí vào nhiều nhất, áp suất ở phổi sẽ âm nhất, máu đổ về phổi tim nhiều nhất; như vậy sự trao đổi khí sẽ tốt hơn nhờ sự xứng hợp giữa sự thông khí và việc tưới máu phổi, đồng thời sẽ làm cho việc lưu thông máu từ tim phổi đến các cơ quan khác nhiều hơn, điều này giải thích việc lưu lượng máu qua động mạch cảnh (là động mạch mang nhiều máu lên nuôi não) khi thở tối đa nhiều hơn khi thở thường.Nguồn: Thuốc & sức khỏe, số 295 (1.11.2005), tr 14
xem thêm :
Kết quả hình ảnh cho Thở 4 thì trong phương pháp của Bs Nguyễn văn HưởngKết quả hình ảnh cho Thở 4 thì trong phương pháp của Bs Nguyễn văn Hưởng
SKĐS - Thở 4 thời có kê mông và giơ chân là để luyện tổng hợp về thần kinh, khí và huyết, trọng tâm là luyện thần kinh, chủ động về ức chế và hưng phấn nhằm mục đích ngủ tốt, đồng thời cũng làm cho khí huyết lưu thông. Thở 4 thời do BS. nguyễn văn hưởng sáng tạo, là kỹ thuật cơ bản của phương pháp dưỡng sinh: Yoga - khí công.
Tư thế: tốt nhất là luyện ở tư thế nằm ngửa, có kê mông, chân thẳng, một tay để trên ngực, một tay để trên bụng. Kê mông thấp hay cao tùy sức, tùy bệnh, phải rất thận trọng nếu là bệnh cao huyết áp. Ban đầu kê một cái gối mỏng, sau có thể dùng hai gối, tùy sức của cơ hoành có thể đẩy các tạng phủ xuống bụng dưới.
Thở 4 thời:
Thời 1: vào, đều, sâu, tối đa, ngực nở, bụng phình và cứng. Thời gian 1/4 hơi thơ: “Hít vào, ngực nở, bụng căng”.
Thời 2: giữ hơi, cơ hoành và các cơ lồng ngực đều co thắt tối đa, thanh quản mở, giơ chân. Thời gian 1/4 hơi thở, rồi để chân xuống “giữ hơi, cố gắng hít thêm”.
Thời 3: thở ra thoải mái tự nhiên, không kìm, không thúc, thời gian 1/4 hơi thở: “Thở ra, không kìm, không thúc”.
Thời 4: thư giãn hoàn toàn, có cảm giác nặng và ấm. Tự kỷ ám thị: “Tay chân tôi nặng và ấm, toàn thân tôi nặng và ấm”. Thời gian 1/4 hơi thở: “Nghỉ thời nặng ấm, tay chân”.
Giải thích công thứcThời 1: hít vào, đều, sâu, tối đa để chủ động về lưu lượng cho đều và bảo đảm hơi vào sâu tối đa đến tận cùng các phế nang ở các vùng chót phổi, và đáy phổi ngực nở tối đa, bụng phình tối đa song phải bảo đảm cứng, nghĩa là các cơ bụng, cơ hông cơ đáy chậu phản ứng trở lại cơ hoành để kìm tạng phủ không sa. Áp suất dương ở bụng và âm ở khoang màng phổi, máu chạy về tim dễ dàng.Thời 2: giữ hơi là thời khó nhất và phức tạp nhất vì nó tăng hiệu suất của hơi thở, hoàn chỉnh việc trao đổi O2 và CO2 tăng cường sức chủ động của cơ thể. Thanh quản phải mở: muốn làm được điều đó sau thời 1 ta có hít thêm tối đa, các cơ thở đã co thắt thì tiếp tục co thắt thêm nữa. Thanh quản đã sẵn mở ta cũng tiếp tục giữ cho mở, trái cổ bị kéo xuống, phải giữ nó bị kéo xuống, các hõm ở cổ cũng vẫn hõm như trước. Mặt không đổi sắc, không đỏ gay, hõm cổ không phình ra, áp suất không tăng trong phổi, không chóng mặt, không nhức đầu, không tức ngực, khác hẳn với trường hợp nhốt hơi. Thời này có giơ chân lên độ 20cm (cao bằng bàn chân) để tăng cường co thắt cơ bụng, cơ hông và cơ đáy chậu, làm cho bụng cứng hơn, cơ hoành sẽ co thắt thêm 1 tý, hít thêm 1 tý hơi nữa để bụng càng cứng hơn như gỗ. Hết thời gian 1/4 hơi thở thì ta để chân xuống để bắt đầu thời 3.Trong thời gian này còn 1 cái khó nữa là tập ức chế phân biệt hay thư giãn phân biệt: trong thời 1 và 2 các cơ thở co thắt tới mức tối đa, thường xảy ra hiện tượng hưng phấn lan tỏa ra các cơ khác như cơ tay, cơ chân, cơ hàm dưới, cơ miệng, giống như trẻ con cố gắng hết sức để tập viết thường hay thè lưỡi và chu miệng. Ta phải tập ức chế phân biệt hay thư giãn phân biệt để chỉ tập trung điều khiển cơ thở (hít vô tối đa) mà thôi, không cho lan tỏa ra các cơ khác. Cơ nào cần thở thì sẽ hưng phấn, cơ nào không cần thở thì sẽ ức chế phân biệt hay thư giãn phân biệt, như thế mới hợp lý mà không phí sức.Thời 3: thở ra, không kìm, không thúc: tất cả các cơ hoàn toàn buông xuôi. Thở ra là nhờ sức nặng và tính thun của lồng ngực và bụng làm cho nó xẹp xuống, nên chỉ thở ra đến mức gần tối đa (không ép bụng và ép ngực để thở ra được nhiều hơn). Thở ra tự nhiên, thoải mái như “con cò đáp xuống ruộng đồng”, như lượn sóng (đã lên cao trên bãi cát) rút xuống trở về. Con người nghe dễ chịu, khỏe khoắn.Thời 4: nghỉ, thư giãn hoàn toàn để có cảm giác nặng và ấm. Ta tự kỷ ám thị thêm “tay chân tôi nặng và ấm; toàn thân tôi nặng và ấm”.
                                                                                                                            BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ

Góc Thư giản

Khi thấy chữ nhỏ muốn cho to ra, hãy nhấn vô Ctrl Key (bên trái phía dưới bàn gõ) đồng thời gõ vô Key dấu + (góc phải phía trên). Nếu gõ một lần chữ chưa đủ lớn, thì gõ hai lần, ba lần ...
Ngược lại, Bấm Ctrl KeyKey dấu -( kế góc phải phía dưới ), chữ sẽ nhỏ lại.